CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH

NƠI GẶP GỠ CÁC BẠN CÙNG KHÓA, CÙNG TRƯỜNG, CÙNG QUÊ VÀ CÁC THẦY CÔ TRÊN KHẮP MỌI MIỀN
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
February 2018
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728    
CalendarCalendar
Social bookmarking
Social bookmarking digg  Social bookmarking delicious  Social bookmarking reddit  Social bookmarking stumbleupon  Social bookmarking slashdot  Social bookmarking yahoo  Social bookmarking google  Social bookmarking blogmarks  Social bookmarking live      

Bookmark and share the address of CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH on your social bookmarking website
Top posting users this month
Most active topics
NGUYỄN NGỌC BẢO VÀ CỰU HỌC SINH K76-79 GẶP NHAU Ở SÀI GÒN
Chùm thơ Phan Sĩ Phú
gặp mặt thường niên 2013 tại Sóc Sơn
Gặp mặt kỷ niệm 35 năm ra trường K76-79 (16-11-2014) tại Trường
ĐÁM CƯỚI CON TRAI CỦA HƯƠNG LỚP G TẠI TP.HCM
Lễ Vu Quy Con Gái Anh Khoa (lớp C) ở Hà Nội
HÌNH ẢNH KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY RA TRƯỜNG HỘI CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 TRƯỜNG PT CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Mời các bạn cựu HS cấp III Tây Tiền Hải khóa 76-79 gặp gỡ tại Vĩnh Phúc
Truyện ngắn 100 chữ
DANH SÁCH CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Latest topics
» Chúc mừng năm mới
Thu Mar 24, 2016 9:36 pm by buitiendung

» Chào xuân Bính Thân
Wed Feb 03, 2016 10:26 pm by buitiendung

» Chia buồn với gia đình bạn Phan Quốc Sự
Wed Jan 20, 2016 11:23 am by phanquocsu

» Thông báo mới
Wed Jan 20, 2016 11:22 am by phanquocsu

» Danh sach G
Wed Dec 30, 2015 4:30 pm by phanquocsu

» Thông báo khẩn
Fri Nov 20, 2015 10:49 pm by buitiendung

» Thông báo mời gặp mặt K76-79 trường TT Hải Năm 2015
Tue Oct 06, 2015 10:44 pm by buitiendung

» Thân gửi các bạn!
Sun Sep 27, 2015 8:41 pm by buitiendung

» Kỷ niệm 30 năm ra trường Hội HS K76-79 Cấp 3 Tây Tiền Hải
Fri Aug 21, 2015 11:35 pm by buitiendung

Keywords
Poll
Statistics
Diễn Đàn hiện có 62 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: Mrgift

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 772 in 271 subjects

Share | 
 

 Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong V-4)

Go down 
Tác giảThông điệp
buitiendung
Admin


Tổng số bài gửi : 158
Join date : 26/10/2012
Age : 55
Đến từ : Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong V-4)   Thu Jul 04, 2013 11:03 pm



IV- ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN TÂY LƯƠNG THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔi MỚI, THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ LẦN THỨ XXXI (nhiệm kì 2001 – 2005) Trong 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1986 – 2000), Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đã cố gắng phấn đấu vượt qua những khó khăn, thử thách để đạt được nhiều thành tích. Trong đã đời sống của nhân dân trong xã không ngừng được nâng cao về cả vật chất lẫn tinh thần; tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn được ổn định và giữ vững. Bộ mặt nông thôn xã nhà đã có nhiều thay đổi to lớn. Để tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, được sự chỉ đạo của Huyện uỷ Tiền Hải, Đảng bộ xã Tây Lương tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XXXI (nhiệm kì 2001 – 2005). Đại hội đã diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới cũng như trong nước có những thuận lợi và khó khăn: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2001) và Đại hội Đảng bộ các cấp đã có những chủ trương chính sách mở đường cho giai đoạn cách mạng mới. Ở địa bàn xã, tình hình chính trị đã và đang Từng bước được ổn định, cơ sở hạ tầng được tổ chức xây dựng tương đối hoàn chỉnh; cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã đoàn kết phấn đấu thực hiện các nhiệm vô chính trị và đạt được nhiều thành tích. Bên cạnh đã trong xã vẫn còn những khó khăn đã là sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu, người dân lao động vẫn thiếu công ăn việc làm, đời sống của một bộ phận nhân dân vẫn khó khăn. Tình hình chính trị địa phương tuy đã ổn định song chưa thật vững chắc. Sau thanh tra, kiểm tra còn nhiều việc cần phải được giải quyết, một số công trình phúc lợi đã xuống cấp cần được tu bổ, trong khi đã thời tiết khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp. Đại hội đại biểu Đảng bộ xã lần thứ XXXI từ ngày 8/9 đến 9/9/2000. Về dự Đại hội có 180 đại biểu đại diện cho 289 đảng viên trong Đảng bộ. Đại hội đánh giá kết quả đạt được trong 5 năm (1996 – 2000) về thực hiện nhiệm vụ phát triển kênh tế - xã hội, an Ninh quốc phòng, xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng; đề ra phương hướng, nhiệm vô, môc tiêu và những giải pháp xây dựng xã nhà trong những năm tới (2001 – 2005). Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 13 đồng chí, đồng chí Tô Đình Sót được bầu làm Bí thư Đảng uỷ, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng được bầu làm Phó Bí thư Đảng uỷ đồng chí Ngô Xuân Thuỷ làm chủ tịch uỷ ban nhân dân xã. Căn cứ vào nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIV, xuất phát từ tình hình, điều kiện cô thể của địa phương, Đại hội đại biểu Đảng bộ xã lần thứ XXXI đã đề ra phương hướng là “giữ vững tình hình chính trị, tiến tới ổn định vững chắc; tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế; tích cực đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp với khuyến khích mở rộng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề và kinh doanh dịch vô, cải thiện đời sống nhân dân về vật chất, tinh thần, văn hoá xã hội; nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sãc tốt sức kháe nhân dân, thực hiện có hiệu quả phong trào xây dựng làng xã, gia đình văn hoá, xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể trong sạch vững mạnh, góp phần cùng cả nước thực hiện môc tiêu dân giầu, nước mạnh”. Các mục tiêu chủ yếu “về phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ tăng trưởng đạt 6% năm trở lên; tổng sản phẩm xã hội năm 2001 phấn đấu đạt 28 tỷ 530 triệu đồng, bình quân 4 triệu 100 ngàn đồng một người một năm. Đến năm 2005 phấn đấu đạt 31 tỷ 200 triệu đồng, bình quân 4 triệu 5 trăm ngàn đồng người/năm, trong đã phấn đấu sản xuất nông nghiệp thu 17 tỷ 115 triệu đồng chiếm 54,8%. Phấn đấu thu từ tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề, kinh doanh dịch vụ, bảo hiểm xã hội 13 tỷ 581 triệu đồng, chiếm 43,48%, thu ngân sách xã 1 tỷ 368 triệu đồng chiếm 1,72%. Tổng sản lượng lương thực bình quân là 4.940 tấn, lương thực bình quân đầu người từ 690 đến 700 kg/năm. Giá trị 1 ha canh tác phấn đấu đạt 25 triệu 500 ngàn đồng”. Về văn hoá – xã hội: “phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục, phổ cập cấp II, tỷ lệ lên lớp phấn đấu đạt 98%, trong đã khá giái đạt 20%. Về dân số, tỷ lệ sinh tự nhiên ở mức 1,1 đến 1,2%, hạ thấp tỷ lệ người sinh con thứ 3 xuống dưới 10%. Củng cố và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao phải thường xuyên, phấn đấu xây dựng từ 1 đến 2 làng đạt tiêu chuẩn văn hoá. Tiếp tục sửa chữa, nâng cấp các tuyến đường, Trục đường chính liên thôn, liên xóm, xây dựng sân vận động trung tâm xã”. Sau thành công của Đại hội, Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các đoàn thể quần chúng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ XXXI của Đảng bộ. Qua 5 năm (2001 – 2005) phấn đấu thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXXI; trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn không ngâng chống phá cách mạng nước ta; thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên tiếp. Đặc biệt là năm 2001 sâu bệnh phá hoại làm thiệt hại nặng cho nông nghiệp; năm 2003 mưa lớn kéo dài gây úng lôt trên diện rộng toàn xã; năm 2005 do ảnh hưởng của cơn bão số 2 và số 7 làm cho năng suất lúa bình quân thấp. Trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp, kênh doanh dịch vô chưa có vốn lớn để đầu tư và phát triển nghề mới ở địa phương. Song được sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đã khắc phục mọi khó khăn, giữ vững sự ổn định về chính trị, tập trung phát triển kinh tế - xã hội, củng cố các đoàn, hội quần chúng, không ngâng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. - Về phát triển kinh tế: được xem như vấn đề cốt lâi nhất, cần được chú trọng, giá trị sản xuất bình quân 5 năm đạt trên 32 tỷ (so với năm 2000 tăng 22,4%), so với môc tiêu Đại hội đề ra đạt 104,9%, đạt tốc độ tăng trưởng kênh tế 7%/năm. Bình quân đầu người trong xã đạt 4 triệu 640 ngàn 536 đồng/năm. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt trên 16 tỷ, chiếm 50,72% cơ cấu kinh tế. Về sản xuất tiểu thu công, nghề và làng nghề, dịch vụ thương mại và ngân sách xã đạt trên 16 tỷ, chiếm 49,28% cơ cấu kinh tế. - Về trồng trọt: diện tích gieo trồng bình quân năm 2001 bằng 398,6 ha, năm 2003 đến 2005 bằng 381,7 ha (so với năm 2001 giảm 16,9 ha, lý do là giành diện tích cho xây dựng giao thông thuỷ lợi, nhà máy gạch tuylen, cửa hàng xăng dầu. Cơ cấu giống cũng được chuyển dịch tích cực, 100% diện tích được cơ cấu giống ngắn ngày. Vụ xuân cơ cấu giống lúa lai 59,53%, giống thuần 20,77%, Bắc Thơm và Nếp 19,7%. Vụ Mùa sử dụng giống thuần 67,1% diện tích, giống lai 22,93% diện tích, giống có tiềm năng kinh tế cao 9,97% diện tích. Năng suất bình quần đạt 119 tạ/ha, tổng sản lượng lương thực (kể cả màu quy thúc) đạt 4.534,5 tấn/năm. Bình quân 690 kg lương thực một người trong năm, so với nghị quyết Đại hội đề ra đạt 98,6% (tăng 0,14% so với năm 2000); giá trị thu từ lúa đạt 10 tỷ 342 triệu 420 ngàn đồng. Về cây mầu vụ đông đã thực hiện gieo trồng 15,07 ha (so với chỉ tiêu đạt 41,86%), năm 2003 được Nhà nước hỗ trợ 100 giống nên diện tích gieo trồng cây vụ đông có tăng lên, giá trị thu 1 tỷ 115 triệu 482 ngàn đồng. - Về chăn nuôi: trong 5 năm (từ 2001 – 2005) đã phát triển cả về số lượng và chất lượng, chủ yếu vẫn theo mô hình gia đình, có khuyến khích chăn nuôi phát triển theo quy mô gia trại để Từng bước hình thành trang trại(1). Tổng đàn lợn tính đến ngày 1/1/2005 có 4.500 con (trong đã lợn thịt 3.550 con, lợn nái 950 con), so với năm 2000 tổng đàn lợn tăng 187 con, sản lượng xuất chuồng 253,7 tấn, tăng 15,8% (so với năm 2000), giá trị sản xuất về chăn nuôi đạt 2 tỷ 444 triệu (riêng lợn sữa có 59.343 con, sản lượng 415,4 tấn, đạt giá trị1 tỷ 277 triệu đồng). Đàn trâu, bò có chiều hướng không phát triển, tổng đàn trâu, bò trong 5 năm có 82 con (trâu 30 con, bò 52 con), tuy nhiên giá trị cũng đạt gần 300 triệu đồng. Trong 5 năm đàn gia cầm trong xã cũng phát triển mạnh, theo số Liệu thống kê hàng năm có 50.500 con, tăng 11% (so với năm 2001). Bình quân thu đạt 1 tỷ 273 triệu đồng/năm. Do có điều kiện thuận lợi trong vay vốn tín dụng, trong xã đã xuất hiện 22 gia trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi cá theo phương pháp bán công nghiệp. Năm 2003 có 2 hộ (điển hình) chuyển đổi 18.600 m2 diện tích cấy lúa năng suất thấp sang đầu tư xây dựng gia trại. Năm 2004 có 2 hộ chuyển đổi 7.713 m2 cấy lúa sang đào ao nuôi thả cá và trồng cây ăn quả. Phong trào trồng cây ăn quả được nhân rộng, toàn xã có 90% diện tích vườn tạp được cải tạo trồng cây có giá trị kênh tế cao, giá trị sản xuất bình quân thu 354 triệu 400 ngàn đồng mỗi năm. Để tăng cường công tác quản lý đất đai, Từng bước thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn; được sự chỉ đạo của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện, Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã đã tổ chức thực hiện quyết định 948 của Uỷ ban nhân dân tỉnh, giải quyết những thiếu sút, tồn tại trong quản lý, sử dụng đất cơ bản, đất làm nhà ở và điều chỉnh việc giao đất ổn định lâu dài cho Từng hộ gia đình. Đối với đất nông nghiệp trước kia đã giao diện tích cơ bản theo quyết định 652 mỗi khẩu 468 m2, nay giao bổ sung đất cơ bản theo quyết định 948 mỗi khẩu thêm 97 m2. Như vậy, tính đến cuối năm 2002 một khẩu trong đối tượng được giao diện tích đất cơ bản là 565 m2 (1 sào 5,7 miếng). Kết quả việc dồn điền đổi thửa theo tinh thần nghị quyết số 07 (ngày 20/3/2002) của Tỉnh uỷ Thái Bình và nghị quyết số 18 của Uỷ ban nhân dân tỉnh, xã Tây Lương đã triển khai thực hiện các nghị quyết 07 và 18 từ tháng 8/2002 cho đến tháng 4/2003 đã hoàn thành. Tổng diện tích khi chưa dồn điền đổi thửa là 4 triệu 117 ngàn 053 m2, số thửa là 10.237, bình quân mỗi hộ gia đình là 5,5 thửa; tổng diện tích sau khi dồn, đổi là 4.127.362 m2 (tăng so với chưa dồn là 10.309 m2). Số thửa sau dồn, đổi là 5.472 thửa. Bình quân 2,9 thửa/hộ giảm được 4.765 thửa. Thực hiện quyết định 372 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình về công tác quản lý đất đai để sử dụng vào các lĩnh vực như cho các cơ quan, đơn vị thui đất để phát triển tiểu công nghiệp, đất làm đường giao thông, thuỷ lợi, đấu giá quyền sử dụng đất làm nhà ở để tạo nguồn vốn cho địa phương xây dựng cơ sở hạ tầng. Kết quả số diện tích đất chuyển sang phát triển công nghiệp là 28.894,6 m2, đất chuyển để xây dựng gia trại, trang trại là 26.313 m2, đất quy hoạch dành làm sân (vận động) văn hoá xã là 6.596 m2, đất mở rộng nghĩa trang nhân dân ở các thôn là 4.192 m2, đất cho dân đấu giá làm nhà ở là 4.070,5 m2. Cùng với sản xuất nông nghiệp, trong 5 năm (2001 – 2005) Đảng bộ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nghề và làng nghề. Khuyến khích các tập thể và hộ gia đình có khả năng đầu tư vốn vào sản xuất, tăng thu nhập, đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong xã. Toàn xã có 22 máy cày bâa, 16 máy tuốt lúa, 18 máy xay xát, 20 máy cưa gỗ, 3 ô tô chở khách, 16 ô tô vận tải, 5 thuyền chở vật Liệu xây dựng. Có 6 doanh nghiệp và 25 tổ hợp xây dựng và cơ khí nhỏ; hàng ngày thu hút 800 đến 1000 lao động, thu nhập bình quân từ 20 – 25 triệu mỗi ngày. Toàn xã có 14 hộ làm nghề khai thác cát và sản xuất vật Liệu xây dựng, 60 hộ làm dịch vô thương mại; đưa giá trị thu từ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kênh doanh dịch vô, nghề và làng nghề đạt 14 tỷ 815 triệu 475 ngàn 400 đồng. Năm 2003 thôn Lương Phú được Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp bằng làng nghề. - Về công tác tài chính: chính quyền xã đã thực hiện nghiêm túc luật ngân sách, việc quản lý thu, chi đảm bảo đúng nguyên tắc, số thu hàng năm tăng(1), các nguồn thu được quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng quy định,. thực hiện tốt việc công khai về ngân sách (bình quân thu ngân sách đạt 1 tỷ 315 triệu 669 ngàn 600 đồng). Sang giai đoạn từ 2001 – 2005 hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân xã đã có nhiều tiến bộ, tạo điều kiện cho nhân dân trong xã phát triển nhanh về kênh tế. Số thành viên tham gia là 813 hộ, tăng 59 hộ so với năm 2000 (chiếm 47,2% tổng số hộ trong xã). Quỹ tín dụng với tổng số vốn điều lệ là 1.965.000.000 đ (trong đã huy động Tiền vốn trong nhân dân gửi là 1.900.000.000 đồng), trong 5 năm đã cho 650 lượt người vay với số Tiền là 1.915.000.000 đồng. Sử dụng nguồn vốn vay vào sản xuất nông nghiệp bằng 40,4%, đầu tư sản xuất kênh doanh dịch vô làm nghề bằng 59,5%. Nhân dân thường xuyên gửi Tiền vào quỹ tín dụng, cách thức giao dịch ngày được đổi mới, tổ chức quản lý, điều hành và sử dụng nguồn vốn an toàn đúng môc đích. - Về tổ chức xây dựng các cơ sở hạ tầng: từ năm 2001 đến 2005 Đảng bộ đã lãnh đạo xây dựng được những công trình, mang nhiều ý nghĩa(1) với phương châm “Nhà nước, tập thể và nhân dân cùng làm”. Bằng nguồn vốn huyện hỗ trợ, nguồn ngân sách xã thu từ “đổi đất lấy công trình” và nguồn vốn từ nhân dân đóng góp. Tổng giá trị xây dựng là 4.900.000.000 đồng (trong đã huyện hỗ trợ 747.600.000 đồng, ngân sách xã 2.377.311.000 đồng, nhân dân đóng góp 436.458.000 đồng, đổi đất lấy công trình 1.389.295.000 đồng). Cũng trong giai đoạn từ 2001 – 2005, Uỷ ban nhân dân xã, Hợp tác xã nông nghiệp đã tổ chức thực hiện nâng cấp trạm bơm cánh đồng phe thôn Lương Phú với tổng số vốn đầu tư là 60.000.000 đồng, đồng thời thực hiện dự án cứng hoá kênh mương (M350) với chiều dài 694 m, giá trị 135.762.000 đồng, bằng nguồn vốn Nhà nước hỗ trợ 300 triệu đồng, Hợp tác xã nông nghiệp 110 triệu đồng; đào đắp, nạo vột mương máng, sông dẫn 59.000 m3, giá trị 262.737.680 đồng (trong đã Nhà nước hỗ trợ 70 triệu đồng, còn lại Hợp tác xã đầu tư). Cùng với các công trình do xã thực hiện, cấp uỷ, chính quyền, các xóm thôn cũng vận động nhân dân ở khu dân cư đóng góp Tiền vốn và ngày công xây dựng đường làng ngâ xóm, đường ra đồng... bằng chất Liệu bê tông và vật Liệu cứng với tổng chiều dài là 6.248 m, trị giá 118.210.000 đồng(1). Tất cả các công trình được xây dựng trong thời gian 2001 – 2005 đều đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã, Hợp tác xã nông nghiệp. Từ việc khảo sát thiết kế, lập dự toán, thẩm định, ký kết hợp đồng, giám sát kỹ thuật, thờ công... đã đảm bảo đúng quy trình xây dựng, đạt chất lượng cao, đáp ứng nguyện vọng và mọi nhu cầu của nhân dân trong xã. Những kết qủa đạt được trong phát triển kênh tế của Đảng bộ và nhân dân Tây Lương thời kì đổi mới từ 2001 – 2005 làm cho bộ mặt nông thôn xã có nhiều thay đổi to lớn. Tuy nhiên, cũng còn bộc lộ nhiều tồn tại cần được khắc phục, đã là: những năm 2001 – 2005 kênh tế nông nghiệp tuy phát triển khá song tốc độ tăng trưởng hàng năm không đều. Việc chuyển dịch cơ cấu kênh tế còn chậm, chưa quy hoạch được vùng sản xuất lúa tập trung, giá trị trên một đơn vị diện tích còn thấp(2). Việc chỉ đạo thực hiện đề án sản xuất cây màu vụ đông chưa sát sao, hàng năm chỉ đạt 50% diện tích (theo kế hoạch); chăn nuôi gia súc, gia cầm vẫn chủ yếu tập trung ở hộ gia đình, sản xuất chăn nuôi theo hướng hàng hoá với quy mô gia trại, trang trại còn ít, bước đầu chuyển đổi hiệu quả chưa cao. Hệ thống giao thông, thuỷ lợi, cầu, cống, đường ra đồng ở một số thôn, xóm xuống cấp. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề kênh doanh dịch vô quy mô còn nhá bộ, các doanh nghiệp tổ hợp còn nhiều khó khăn ( thiếu vốn, thiếu việc làm, doanh thu từ những hộ kênh doanh còn thấp); chưa có tập thể hoặc cá nhân nào dám mạnh dạn đầu tư cho sản xuất công nghiệp. Chưa phát huy hết lợi thế của địa bàn xã để tạo động lực thúc đẩy sản xuất. Nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng đòi hái rất lớn song nguồn vốn thu không ổn định, chưa đáp ứng được nhu cầu cần sử dụng. - Về văn hoá xã hội: Trong 5 năm (2001 – 2005) vừa đồng thời thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, thực hiện quyết định 212 và 2080 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình và cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Quán triệt quan điểm văn hoá là nền tảng tinh thần, vừa là môc tiêu, vừa là động lực phát triển kênh tế xã hội. Từ nhận thức sâu sắc đã Đảng bộ luôn luôn coi trọng và quan tâm đúng mức nên trong 5 năm qua công tác văn hóa xã hội phát triển rõ nét, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vô phát triển kênh tế xã hội trong địa bàn xã. Kết qủa trong 5 năm phấn đấu toàn xã có 2 thôn (Lương Phú và Trung Tiến) đạt tiêu chuẩn khu dân cư tiên tiến.; 3 thôn (thôn Thượng, thôn Nghĩa, thôn Hiên) được công nhận là những đơn vị khá. Tháng 10/2003 thôn Lương Phú được Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp bằng “thôn văn hoá cấp tỉnh”. Năm 2001 toàn xã có 350 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, năm 2004 có 1.168 hộ = 67,7% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá (tăng so với năm 2001 là 46,9%). Năm 2005 có 1.250 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa bằng 72,9% số hộ trong toàn xã. - Về sự nghiệp giáo dục: Được sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, Uỷ ban nhân dân xã, năm 2003 Trường Mầm non được thành lập (sát nhập giữa nhà trẻ và các lớp mẫu giáo). Sau khi được thành lập, bình quân mỗi năm có 229 cháu thường xuyên đến trường đạt tỷ lệ 55% số cháu trong xã đến trường. Nhà Trường thực hiện các chương trình nuôi dạy trẻ của bộ giáo dục ban hành. Tỉ lệ nuôi dưỡng ăn bán trú đạt 60 - 65% số cháu đến trường. Trường Tiểu học và THCS cơ bản đã được phổ cập trong độ tuổi đạt 100% học sinh đến trường. Trường Tờều học bình quân có 471 học sinh, hàng năm học sinh giái đạt 25,2%, khá đạt 42%, trung bình 32,7%, yếu 0,1%; chất lượng thờ lên lớp đạt 99%; học sinh thờ tốt nghiệp chuyển cấp đạt 100%. Trường THCS bình quân mỗi năm có 514 học sinh đến trường, trong đã học sinh giái đạt 10%, khá là 37,8%, trung bình 49%, yếu 3,2%; thì lên lớp đạt 97,7%, thì tốt nghiệp đạt 99,6%. Về chất lượng giáo gôc toàn diện (ở cả 3 cấp học) hằng năm được bảo đảm. Về cơ sở vật chất các trường thường xuyên được tu bổ, hàng năm Uỷ ban nhân dân xã chi ngân sách hỗ trợ 10 triệu đồng cho việc sửa chữa, sắm tờện nghi và đồ dựng giảng dạy. Trung tâm giáo dục cộng đồng và Hội Khuyến học được thành lập năm 2001 do ông Lại Văn Bằng phó chủ tịch UBND xã làm chủ tịch. Thực hiện 4 chuyên đề: cần gì học nấy. Từ năm 2003 - 2007 đã tổ chức được 3 lớp học: tên học văn phòng, lớp hán nôm, ngoại ngữ anh văn đạt kết quả tốt. Tuy mới thành lập nhưng hoạt động tương đối đều và có kết quả rõ rệt, góp phần thúc đẩy phong trào hiếu học trong nhân dân (năm 2004 có 67 gia đình tiêu biểu trong phong trào khuyến học và nhiều dòng họ được Uỷ ban nhân dân huyện công nhận là dòng họ làm tốt công tác khuyến học. - Về công tác Y tế: Năm 205 tiếp thu dự án môi trường của Thuỵ Điển tài trợ, xã đã sắm thêm 3 xe chở rác, 2 loa máy, xây 20 hố chứa rác thải ở các cánh đồng của 5 thôn, xây dựng được đội tình nguyện xanh làm tốt công tác thu gom rác thải ở 5 thôn. Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, trong 5 năm qua Trạm Y tế hoạt động có kết quả tốt. Cán bộ, nhân viên của Trạm được biên chế đủ theo quyết định 58 của Thủ tướng Chính phủ. Đội ngũ y tế viên cơ sở thôn được bố trí theo quyết định số 18 của Uỷ ban nhân dân tỉnh đã hoạt động đều và thường xuyên có tinh thần, thái độ phục vô tốt đã góp phần nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh, chăm sãc sức kháe cho nhân dân. Kết quả (trong 5 năm) có 31.714 lượt người được khám và chữa bệnh. Thực hiện có hiệu quả 8 chương trình quốc gia về y tế; thường xuyên khám bảo hiểm và cấp phát thuốc cho các đối tượng theo đề án 83 của Bộ Y tế; thường xuyên Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chương trình y tế cộng đồng. Chủ động phòng chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường, thực hiện tiêm phòng 6 bệnh nguy hiểm cho trên 300 cháu từ 0 đến 9 tháng tuổi. Cơ sở vật chất và trang thiết bị của Trạm Y tế luôn luôn được củng cố (trang thiết bị và dụng cô y tế được tiếp nhận từ 5 dự án: Quân y 83, EC, Eiê, C334, trị giá 156.412.000 đồng. Năm 2004 xã được Uỷ ban nhân dân tỉnh công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về y tế. - Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình: Ban Dân số, Gia đình và Trẻ em xã đã phối hợp với Hội Phụ nữ, Trạm Y tế xã thường xuyên làm tốt công tác tư vấn và dịch vô kế hoạch hóa. Trong 5 năm đã tổ chức 18 đợt Tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện công tác dân số kế hoạch hoá gia đình. Kết quả đã giữ vững được tỷ lệ sinh tự nhiên hợp lý, thực hiện tốt công tác chăm sãc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và trẻ em khuyết tật. - Về các hoạt động văn hóa và thông tên truyền thanh: Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, cấp uỷ, chính quyền xã, trong 5 năm phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới trong xã được cán bộ, đảng viên và nhân dân hưởng ứng, Từng bước đẩy lùi mọi hủ tục lạc hậu, xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của gia đình và dòng họ, thôn làng; giữ gìn và bảo quản tốt các di tích văn hóa lịch sử. Tôn trọng tự do tínngưỡng của nhân dân trong xã. Thực hiện tốt mọi quy định về văn hóa trong việc cưới, việc tang, việc mừng thọ, lễ hội truyền thống (không dựng thuốc lá, cỗ bàn trong đám tang). Uỷ ban nhân dân xã và 5 thôn làng đã soạn thảo hương ước văn hoá làng xã, được nhân dân hưởng ứng và thực hiện. Phong trào thể dục thể thao và văn hoá nghệ thuật được nhân dân tham gia sôi nổi, đội văn nghệ của xã đã tham gia hội diện ở cấp tỉnh, huyện 12 lần, giao lưu văn nghệ với Trung đoàn 8 bộ bênh Quân khu III 15 lần. Năm 2002 đội văn nghệ xã được Uỷ ban nhân dân huyện tặng giấy khen giải nhất về văn hóa văn nghệ. Về phong trào thể dục thể thao, là xã có số đông vận động viên tham gia chạy việt dã và bơi lội trong các đợt huyện tổ chức (từ 2002 – 2005). Kết quả đơn vị xã Tây Lương luôn dẫn đầu và nhất toàn đoàn. Năm 2003 được Uỷ ban Thể dục thể thao Quốc gia tặng bằng khen “Đơn vị xã Tây Lương Tiền Hải có phong trào TDTT xuất sắc”. Công tác thông tên Tuyên truyền và truyền thanh được hoạt động thường xuyên. Mặc dự các phương tờện phục vô cho công tác truyền thanh đã quá cũ kỹ, xuống cấp, tuy nhiên vẫn được tu sửa và khai thác sử dụng. Đài Truyền thanh duy trì thường xuyên lịch phát thanh (ngày 2 buổi) đảm bảo chất lượng về âm thanh cũng như nội dung Tuyên truyền phục vô tốt việc Tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và mọi nhiệm vô chính trị của địa phương. Thực hiện có nề nếp chuyên môc an toàn xã hội vào 22 giờ hàng ngày, góp phần giữ gìn an Ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã nhà. - Về công tác xây dựng nông thôn và thực hiện chính sách xã hội: Trong 5 năm (2001 – 2005) do kênh tế, văn hoá xã hội phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân trong xã Từng bước được nâng lên, tình hình chính trị luôn luôn được ổn định, các công trình phục vô cho đời sống dân sinh được xây dựng làm cho cảnh sắc nông thôn không ngâng đổi mới. Toàn xã có 1.724 hộ, trong đã số hộ giàu chiếm 5,86%, hộ khá 43,76%, hộ trung bình 44,28%, hộ nghèo chỉ còn 6,1%. Thực hiện nghị quyết số 09 của Tỉnh uỷ về xúa nhà dột nát, toàn xã đã xây được 11 ngôi nhà tình thương tặng cho hộ nghèo và 1 ngôi nhà cho cựu thanh Niên xung phong. Các hoạt động nhân đạo, từ thờện có hiệu quả tốt. Cán bộ và nhân dân trong xã đã đóng góp 18.767.000 đồng để xây dựng quỹ vì người nghèo và 12.970.000 đồng ủng hộ làm nhà tình thương cho những hộ nghèo. Với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân luôn quan tâm tới các đối tượng thuộc diện chính sách. Toàn xã đã xây dựng được 4 ngôi nhà tặng cho các gia đình thuộc diện chính sách. Hàng năm Uỷ ban nhân dân xã trích ngân sách từ 4 – 5 triệu đồng mua quà tặng cho các đối tượng chính sách nhân các ngày lễ, tết. Hưởng ứng phong trào ủng hộ những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và trẻ mồ côi, những người già cô đơn không nơi nương tựa, toàn xã đã góp với số Tiền là 10.840.000 đồng. Ngoài ra còn ủng hộ đồng bào vùng bị lũ lôt, thiên tai, nạn nhân chất độc hoá học và người tàn tật với số Tiền là 22 triệu đồng. Về chính sách tôn giáo và hoạt động tínngưỡng được cấp uỷ Đảng, chính quyền quan tâm. Mọi hoạt động về tôn giáo và tínngưỡng của nhân dân được chính quyền hướng dẫn, sinh hoạt đúng quy định của Nhà nước. Việc xây dựng chùa cảnh 4 gương mẫu được Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc xã lưu ý chú trọng. Năm 2004 nhà thờ cô Tiến sỹ Hoàng Vinh được Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp bằng di tích lịch sử văn hóa là Nêềm vinh dự vẻ vang không những cho nhân dân trong xã mà cả nhân dân huyện Tiền Hải. Tháng 10/2005 đền Bắc thôn Lương Phú dược UBND tỉnh cấp bằng di tích lịch sử văn hoá. - Công tác quốc phòng và an Ninh: Thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khoá iX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc, cấp uỷ Đảng, chính quyền xã thường xuyên Tuyên truyền luật nghĩa vô quân sự làm cho nhân dân thấm nhuần thực hiện tốt. Coi trọng giáo dục chính trị và kiến thức quốc phòng cho toàn dân, xây dựng phương án sẵn sàng chiến đấu, quản lý tốt nguồn dự bị động viên. Lực lượng dân quân tự vệ hàng năm được tổ chức huấn luyện và tham gia kiểm tra, hội thao do huyện tổ chức và thường đạt loạt khá. Hàng năm Ban Quân sự xã tổ chức đăng ký nghĩa vô quân sự cho lớp thanh Niên ở tuổi 17 (tỷ lệ đạt 80%). Công tác tuyển chọn gọi nam công dân nhập ngũ, trong 5 năm (2001 – 2005) đã có 71 thanh Niên lên đường làm nghĩa vô quân sự, đảm bảo số và chất lượng, đúng luật, không có thanh Niên đào, bá ngũ. Để thực hiện tốt chiến lược an Ninh quốc gia, công tác an Ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã luôn được cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể chú trọng, thường xuyên phát động phong trào quần chúng nhân dân bảo vệ an Ninh Tổ quốc, chủ động đấu tranh phòng ngâa tội phạm, giải quyết kịp thời các vô việc xảy ra. Năm 2003 đã tổ chức các tổ tự quản về an Ninh trật tự; các thôn đều có các tổ hoà giải và hoạt động có hiệu quả. Kiện toàn tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của Ban Công an xã, làm tốt chức năng, nhiệm vô được giao. Năm 2004 xã được công nhận là đơn vị tiên tiến trên mặt trận an Ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. - Công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân: a- Công tác xây dựng Đảng: Quán triệt quan điểm xây dựng Đảng là vấn đề then chốt, vì vậy trong 5 năm (2001 – 2005) Ban Chấp hành Đảng bộ luôn chú ý chăm lo xây dựng củng cố tổ chức Đảng và đảng viên, chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Cấp uỷ chú trọng việc tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cũng như chỉ thị, nghị quyết của cấp uỷ Đảng các cấp. Kết hợp chặt chẽ với việc triển khai xây dựng các chương trình hành động phự hợp với tình hình thực tờễn ở địa phương. Để nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, công tác giáo dục chính trị tư tưởng được tiến hành thường xuyên, nội dung được chuẩn bị chu đáo, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao thêm nhận thức, tên tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vô phát triển kênh tế - xã hội, quốc phòng an Ninh, xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng trong sạch vững mạnh. Ban Tuyên giáo Đảng uỷ được tổ chức, biên chế theo quy định của Huyện uỷ, trong đã đồng chí Bí thư Đảng uỷ làm Trưởng Ban, một đồng chí Phú Ban kiêm Báo cáo viên, trong Ban còn có từ 1 đến 2 thành viên. Trong 5 năm qua Ban Tuyên giáo Đảng bộ Tây Lương đã tham mưu giúp Đảng bộ về công tác chính trị, tư tưởng, kịp thời nắm bắt tình hình chính trị tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã; triển khai quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng các cấp tới Đảng bộ và nhân dân, chuyển tải tình hình thời sự trong và ngoài nước để cán bộ, đảng viên nắm bắt kịp thời, không để lạc hậu với tình hình. Về công tác tổ chức: Năm 2000 Đảng bộ có 289 đảng viên sinh hoạt ở 15 Chi bộ. Năm 2003 thực hiện hướng dẫn của Ban Tổ chức Tỉnh uỷ sát nhập 12 Chi bộ xóm thành 5 Chi bộ thôn và thành lập Chi bộ trường Mầm non. Năm 2005 toàn Đảng bộ có 312 đảng viên, sinh hoạt ở 9 Chi bộ (5 Chi bộ thôn và 4 Chi bộ chuyên). Đảng viên 40, 50 năm tuổi Đảng có 77 đồng chí (còn sống 52 đồng chí). Đảng viên được miễn sinh hoạt là 51 đồng chí; đảng viên tham gia Đảng uỷ là 11 đồng chí; tham gia Chi uỷ là 37 đồng chí. Từ Đảng uỷ đến các Ban Chi uỷ Chi bộ luôn coi trọng và thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng. Các Chi bộ hàng năm có kế hoạch đăng ký với Đảng uỷ phấn đấu xây dựng Chi bộ trong sạch vững mạnh. Đảng viên đăng ký với Chi bộ thực hiện tốt 4 nhiệm vô của người đảng viên luôn Nêu cao vai trũ lãnh đạo, tính Tiền phong gương mẫu, đi đầu trong các phong trào thờ đua ở địa phương. Tuyệt đại bộ phận đảng viên trong Đảng bộ luôn luôn tự học tập, rốn luyện, giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống và năng lực công tác. Thực hiện nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII về xây dựng chỉnh đốn Đảng, tự phi bình và phi bình trong Đảng. Qua phân loại hàng năm, kết quả: phân loại tổ chức Đảng năm 2001 có 13/15 Chi bộ đạt trong sạch vững mạnh bằng 86,6%; năm 2002 có 14/15 Chi bộ đạt TSVM, bằng 93,3%; năm 2003 và 2004 có 8/9 Chi bộ đạt TSVM, bằng 88,9%. Đảng bộ xã Tây Lương 5 năm Liền (từ 2000 đến 2004) được công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Kết quả phân loại đảng viên: Năm 2001, tham gia phân loại có 225/289 đảng viên, đạt tỷ lệ 77,8% (trong đã có 198 đồng chí loại 1 = 88,4%; loại 2 có 26 đồng chí = 11,6%; loại 3 có 1 đồng chí = 0,4%). Năm 2002, tham gia phân loại có 223/292 đảng viên, đạt tỷ lệ 76,3% (trong đã có 66 đồng chí loại 1 = 29,6%; loại 2 có 157 đồng chí = 70,4%). Năm 2003, tham gia phân loại có 232/307 đảng viên, đạt tỷ lệ 75,57% (trong đã có 146 đồng chí hoàn thành tốt nhiệm vô; 86 đồng chí hoàn thành nhiệm vô). Năm 2004, tham gia phân loại có 294/312 đảng viên, đạt tỷ lệ 94,23% (trong đã có 196 đồng chí hoàn thành tốt nhiệm vụ; 51 đồng chí hoàn thành nhiệm vụ; 2 đồng chí không hoàn thanh nhiệm vụ). Thực hiện chế độ công tác của Đảng, Đảng bộ, Chi bộ đã duy trì sinh hoạt đều đặn, tỷ lệ đảng viên tham gia sinh hoạt bình quân đạt từ 75 – 80%. Về nội dung và phương pháp trong sinh hoạt luôn được đổi mới và có chất lượng. Hầu hết đảng viên được giao nhiệm vụ cụ thể, Phụ trách Từng mặt công tác, đã phát huy tốt vai trò lãnh đạo. Đảng viên tham gia đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kì 2004 – 2009 là 23/26 đại biểu, chiếm 88,46%. Về công tác cán bộ: Đảng bộ và các cấp uỷ luôn quan tâm tạo nguồn cán bộ, chú ý những đảng viên có độ tuổi phự hợp, có năng lực, phẩm chát chính trị vững vàng, có khả năng và điều kiện tham gia công tác Đảng để đưa vào nguồn, có hướng đào tạo và sử dụng. Đảng viên tham gia chính quyền và các đoàn thể nhân dân từ xã đến thôn có 15 đồng chí. Đồng thời với công tác cán bộ, công tác phát triển đảng viên mới cũng được cấp uỷ chú trọng, trong 5 năm, các Chi bộ đã lưu ý tìm nguồn trong các đoàn thể quần chúng nhân dân, những quần chúng tốt, được đảng viên theo dõi giáo dục, giúp đỡ, giao cho họ những công tác để thử thách rèn luyện. Trên cơ sở tuyển chọn những thanh Niên ưu tú đi bồi dưỡng tìm hiểu về Đảng. Trong nhiệm kì (từ 2001 – 2005) Đảng bộ đã kết nạp được 31 đồng chí đảng viên mới, đảm bảo chất lượng . Thực hiện Chỉ thị số 29 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác đổi thẻ và phát thẻ đảng viên. Trong nhiệm kì qua, Đảng bộ Tây Lương đã hoàn thành tốt việc đổi thẻ và phát thẻ cho 292 đồng chí đảng viên, được tổ chức nhân dịp vào những ngày kỷ Nêệm 3/2 và 19/5 với nghi thức trang trọng và có ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Về công tác kiểm tra: cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra của Đảng bộ hàng năm có nghị quyết nhằm thực hiện tốt nội dung chương trình kiểm tra. Bình quân hàng năm cấp uỷ tổ chức từ 4 – 7 cuộc kiểm tra đạt 106% so với kế hoạch đề ra. Nội dung kiểm tra không chỉ trong các tổ chức Đảng và đảng viên mà còn kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của các cấp uỷ. Trong nhiệm kì, Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ đã kiểm tra việc chuyển đổi cây màu vụ đông ở Hợp tác xã dịch vô nông nghiệp, hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân, kiểm tra việc thực hiện nghị quyết ở các Chi bộ. Công tác kiểm tra đã có tác dụng phòng ngâa sai phạm, kịp thời ngăn chặn những tiêu cực nẩy sinh, củng cố tổ chức, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng . Qua công tác kiểm tra đảng viên: năm 2001 đã xử lý kỷ luật khai trõ 3 đảng viên, cho thôi sinh hoạt 3; năm 2002 kỷ luật khai trõ 1, cảnh cảo 1. Công tác kiểm tra Đảng đã góp phần ổn định tình hình, tạo Nêềm tên của nhân dân vào Đảng. Đồng thời với công tác kiểm tra Đảng, công tác dân vận của Đảng cũng được Đảng uỷ, các Chi uỷ và đảng viên quan tâm đúng mức. Đảng uỷ, các Chi uỷ Chi bộ và đảng viên thường xuyên quan hệ mật thiết với quần chúng. Phát huy quy chế dân chủ ở cơ sở, Tuyên truyền giáo dục vận động nhân dân tự giác thực hiện mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết của Đảng, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và những quy định, quy ước ở địa phương. Qua đã để tăng cường thêm ý thức trách nhiệm và nghĩa vô của công dân, tập trung xây dựng thôn làng ngày một phát triển đi lên. Phát huy những kết quả đạt được trong 20 năm đổi mới và 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXXI, được sự chỉ đạo của Huyện uỷ từ ngày 20 – 21/7/2005, Đại hội đại biểu Đảng bộ xã Tây Lương lần thứ XXXII (nhiệm kì 2005 – 2010) được tiến hành. Về dự Đại hội có 160 đại biểu đại diện cho 312 đảng viên trong Đảng bộ. Đại hội đã tổng kết, đánh giá những tồn tại, hạn chế cần được khắc phục, từ đã rút ra những bài học kinh nghiệm, xây dựng phương hướng, đề ra môc tiêu, nhiệm vụ và các giải phảp chủ yếu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010. Đại hội đã bầu 13 đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng được bầu làm Bí thư, đồng chí Tạ Ngọc Thạch được bầu làm Phú Bí thư Đảng uỷ, đồng chí Ngô Xuân Thuỷ được bầu vào Thường vô Đảng uỷ Phụ trách chính quyền xã, đồng chí Hoàng Văn Thợ được bầu vào Thường vụ Đảng uỷ - Chủ nhiệm Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp. Đại hội đại biểu Đảng bộ xã Tây Lương lần thứ XXXII (nhiệm kì 2005 – 2010) đã thành công tốt đẹp. b- Công tác xây dựng chính quyền và các đoàn thể nhân dân Hội đồng nhân dân xã nhiệm kì 1999 – 2004 có 21 đại biểu, năm 2002 Hội đồng quyết định cho một trường hợp thôi làm đại biểu Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân xã nhiệm kì 2004 – 2009 có 26 đại biểu hoạt động tích cực, đã Nêu cao vai trò trách nhiệm trước nhân dân. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc xã, cuộc bầu cử Quốc hội ngày 19/5/2002 đã thành công tốt đẹp, tỷ lệ cử tri trong toàn xã đi bầu đạt 99,64%. Ngày 25/4/2004 cử tri trong xã đi bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp đạt tỷ lệ 98,58%; trong đã đã bầu đủ số lượng đại biểu như đã được quy định; cuộc bầu cử diễn ra an toàn, tiết kiệm. Hội đồng nhân dân xã đã Từng bước thực hiện tốt quyền hạn và chức năng của mình, đã quyết định đúng, giải quyết tốt các vấn đề quan trọng ở địa phương, làm tốt nhiệm vô giám sát, nâng cao chất lượng các kì họp và không ngâng đổi mới phương thức hoạt động, đáp ứng nguyện vọng cử tri trong toàn xã. Uỷ ban nhân dân xã đã thực hiện tốt chức năng quản lý, điều hành công tác chính quyền và phát triển kênh tế - xã hội theo đúng kế hoạch, đúng pháp luật, triển khai tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng các cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã. Thường xuyên làm tốt công tác tiếp dân, giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo và các ý kiến, kiến nghị của công dân. Thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở. Quản lý chặt chẽ việc thu – chi ngân sách, Từng bước thực hiện cải cách hành chính, cơ chế một cửa có hiệu quả. Năm 2003 thực hiên quyết định 65 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình, Uỷ ban nhân dân xã đã chỉ đạo chuyển 12 xóm thành 5 thôn và tiến hành bầu trưởng, phã thôn đạt kết quả cao. Cuối năm 2004 thực hiện nghị định 121 của Chính phủ, sắp xếp bố trí cán bộ xã theo đúng quy định và thành lập công đoàn cơ sở, gồm 19 đoàn viên là cán bộ, công chức xã. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng các ban, ngành xã Tây Lương hàng năm (từ 2001 – 2005) được Uỷ ban nhân dân huyện công nhận là đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vô, riêng Uỷ ban nhân dân xã được huyện công nhận là chính quyền vững mạnh; năm 2003 được Uỷ ban nhân dân tỉnh tặng cờ đơn vị vững mạnh. Trong 5 năm (2001 – 2005) Mặt trận Tổ quốc xã đã không ngâng đẩy mạnh mọi hoạt động, đã tập hợp và xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân trong xã vững mạnh; tổ chức nhiều phong trào thờ đua yêu nước, kết quả đã thu hút được 3.200 lượt các hội viên, đoàn viên, các đoàn thể tham gia các phong trào. Bằng chức năng của mình, Mặt trận Tổ quốc xã đã tổ chức các buổi hiệp thương bầu cử Hội đồng nhân dân, tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri với đại biểu Hội đồng nhân dân 3 cấp. Thông qua việc thực hiện quy chế dân chủ và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Mặt trận Tổ quốc đã nắm bắt tình hình và tâm tư nguyện vọng của nhân dân, để phản ánh kịp thời với cấp uỷ Đảng, chính quyền qua đã để bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân. Cùng với sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền xã, Mặt trận Tổ quốc xã đã vận động toàn dân thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, vận động nhân dân ủng hộ quỹ ngày vì người nghèo, kết quả được 119.767.000 đồng. Trong đã đã trích ra 10.840.000 đồng giúp đỡ học sinh nghèo và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Hoạt động của các đoàn thể nhân dân đã bám sát vào nhiệm vô của địa phương. Từng bước đổi mới nội dung và phương pháp công tác, thường xuyên chăm lo giáo dục chính trị tư tưởng cho đoàn viên, hội viên, tập trung xây dựng tổ chức hội, đoàn vững mạnh cả về số lượng và chất lượng. Tổng số hội viên, đoàn viên trong các đoàn thể toàn xã là 3.142 người (trong đã Hội Nông dân là 712, Phụ nữ 973, Cựu chiến bênh 325, Đoàn Thanh Niên 217, Người cao tuổi 915). Các tổ chức hội, đoàn luôn là lực lượng nũng cốt, gương mẫu đi đầu thực hiện các phong trào thờ đua ở địa phương. Những phong trào và nội dung hoạt động chủ yếu của hội, đoàn là: Hội Nông dân có phong trào sản xuất kênh doanh giái; Đoàn Thanh Niên có phong trào thanh Niên xung kích tình nguyện, lập thân lập nghiệp; Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo… Song vấn đề chung nhất các hội đều tập trung thực hiện tốt nhiệm vô chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mở rộng phát triển nghề và làng nghề, tạo điều kiện giúp nhau vay vốn để phát triển kênh tế, quyết tâm xãa đói giảm nghèo. Hội Khuyến học xã tuy mới được thành lập nhưng nội dung hoạt động rất phong phú, đã kết hợp với Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và các ngành, tổ chức được nhiều lớp học chuyển giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp. Với những nội dung học tập rất thiết thực và bổ ích “cần gì học nấy”, đã giúp cho nông dân có thêm nhận thức, kiến thức mới trong lao động sản xuất để tạo ra năng suất cao. Hội Người cao tuổi xã có tỷ lệ hội viên đạt tiêu chuẩn cao về “Hội viên gương mẫu, mẫu mực”, Hội đã chủ động xây dựng nội dung, chương trình hoạt động phự hợp với tuổi cao, sức yếu, trong đã coi trọng hoạt động tình nghĩa, giải trí đảm bảo giữ gìn sức kháe, tăng tuổi thọ. Trong 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, cùng với những thành tích đã đạt được, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương tiếp tục khẳng định truyền thống cách mạng vẻ vang của mình. Trên cơ sở đã tiếp tục nâng cao tinh thần đoàn kết, thực hiện có hiệu quả nhiệm vô phát triển kênh tế - xã hội; Từng bước làm rạng rì bộ mặt nông thôn, xứng đáng với tên gọi Tây Lương ngày nay.
KẾT LUẬN Từ làng Đại Hoàng, xã Đại Hoàng tổng Đại Hoàng đến xã Tây Lương, huyện Tiền Hải ngày nay là một quá trình với khoảng thời gian so với lịch sử chưa dài, nhưng đối với con người thì cũng đã trải qua 16, 17 đời. Trên 400 năm ấy, mảnh đất này đã chứng kiến biết bao sự đổi thay của lịch sử. Những dòng họ đầu tiên từ trấn Sơn Nam, vùng cửa Càn (Nghệ An) đã về đây kiến cơ lập nghiệp. Trải qua quá trình lao động gian nan vất vả, các thôn Hiên, thôn Nghĩa, thôn Thượng thuộc tổng Đại Hoàng đã ra đời, sau đã là thôn Lương Phú và các trại của Đại Hoàng tách ra cũng được hình thành. Tuy 4 phương hội tụ nhưng nhân dân các thôn trại ngay từ đầu họ đã có tinh thần đoàn kết, yêu thương đựm bọc giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất để chống thiên tai, cũng như đoàn kết trong đấu tranh chống bọn hải tặc (cướp biển), chống áp bức cường quyền, dưới chế độ thực dân phong kiến. Trong phong trào cách mạng 1936 – 1939, 1939 – 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đã vùng lên giành chính quyền, cùng với nhân dân cả nước làm cuộc cách mạng tháng Tám thành công, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, từ trong khó khăn, gian khổ và ác liệt Chi bộ Đảng đã ra đời lãnh đạo cách mạng. Các tổ chức cứu quốc được thành lập và hoạt động sôi nổi, đẩy phong trào kháng chiến, kiến quốc ở xã Hưng Đạo phát triển mạnh mẽ. Các phong trào tiêu biểu như tăng gia sản xuất, hũ gạo kháng chiến góp phần diệt giặc đói; phong trào bình dân học vô diệt giặc dốt; phong trào du kích tự vệ, rào làng kháng chiến, phong trào nuôi quân, giúp đỡ thương binh, cùng bộ đội đánh giặc lập công … Tất cả để đánh thắng giặc Pháp xâm lược. Sau ngày hoà bình lập lại, tháng 4/1955 xã Tây lương được chính thức thành lập. Do biến đổi địa giới hành chính lúc đầu chỉ có 4 thôn (thôn Nghĩa, Lương Phú, Tam Đồng và 3 trại "Hoàn Khê, Nhược Bạn, và Trung Tiến nâng lên thành thôn Trung Đồng"). Đến tháng 4/1957 xã có 6 thôn. Đến năm 1977 thôn Tam Đồng được cắt về xã Vũ Lăng. Xã Tây Lương chính thức có 5 thôn: thôn Thượng, thôn Hiên, thôn Nghĩa, thôn Lương Phú và thôn Trung Tiến "thôn Trung Tiến đổi từ thôn Trung Đồng". Sau ngày thành lập xã Tây Lương đi vào thực hiện chính sách cải cách ruộng đất và Từng bước xây dựng Hợp tác xã nông nghiệp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Tây Lương đã vươn lên mạnh mẽ làm các công trình thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng và tạo dựng nếp làm ăn mới, tạo Tiền đề cho kênh tế nông nghiệp nông thôn phát triển. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương hoàn thành xuất sắc nhiệm vô chi viện cho Tiền tuyến, thực hiện “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, đồng thời chiến đấu anh dũng bảo vệ quê hương, bảo vệ vùng trời của Tổ quốc, cùng với nhân dân miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Sau chiến thắng vĩ đại 30/4/1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương ra sức phấn đấu khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, hưởng ứng công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, qua 20 năm đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương thường xuyên nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện và các ban, ngành hữu quan. Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân trong xã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng các công trình phúc lợi làm cho bộ mặt nông thôn Tây Lương ngày thêm khang trang bề thế. Tình hình chính trị ngày càng được ổn định, sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá cùng các chính sách xã hội, quốc phòng, an Ninh luôn luôn được thực hiện tốt. Đời sống của nhân dân trong xã không ngâng được nâng cao. Đạt được những thành tích ấy là do có sự đóng góp to lớn của cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đã vai trò lãnh đạo của Đảng bộ là nhân tố quyết định. Thực tiễn của quá trình đấu tranh cách mạng và xây dựng quê hương đã được Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đúc kết thành những bài học kinh nghiệm quý sau đây: Một là: Phải luôn luôn trung thành với Đảng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, thường xuyên phát huy trí tuệ tập thể trong Đảng, kịp thời đề ra các chủ trương, nghị quyết sát đúng với phương châm phát triển kinh tế, không ngâng nâng cao đời sống nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm; xây dựng Đảng bộ, Chi bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức là nhiệm vụ then chốt; đồng thời thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc tập trung dân chủ, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiên phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, có ý thức tổ chức kỷ luật đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ để không ngâng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng bộ, Chi bộ trong sạch vững mạnh. Hai là: luôn luôn quan tâm xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân, vững mạnh về mọi mặt, đảm bảo đủ năng lực, hiệu lực quản lý điều hành. Thực hiện tốt quy chế dân chủ đi đôi với việc thực hiện quyền và nghĩa vô của công dân, chấp hành nghiêm chỉnh hiến pháp, pháp luật, nội quy, quy chế, Chủ động, sáng tạo đề cao trách nhiệm, tổ chức thực hiện đúng đường lối, quan điểm các chỉ thị, nghị quyết của các cấp uỷ Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, kiên quyết chống tham ô, tham nhũng, lãng phí. Ba là: thường xuyên làm tốt công tác vận động quần chúng nhân dân, đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, đề cao vai trò hướng dẫn, vận động tập hợp quần chúng của các đoàn viên, hội viên các tổ chức chính trị xã hội; hướng vào nhiệm vụ chính trị trọng tâm là: bảo đảm sự ổn định chính trị vững chắc, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, quốc phòng, an Ninh. Bốn là: coi trọng và làm tốt công tác đối ngoại nhân dân, dựa vào nhân dân “lấy dân làm gốc”, đồng thời phải tích cực tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo và sự giúp đỡ của Huyện uỷ, Tỉnh uỷ cùng các ban, ngành, đoàn thể cấp trên, mở rộng quan hệ với các xã trong huyện; liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài xã tạo ra điều kiện thuận lợi để xã nhà phát triển tốt về mọi mặt. Năm là: luôn luôn làm tốt công tác sơ kết, rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn những việc thành công, chưa thành công, kịp thời khắc phục sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm, đồng thời phát huy những thành tích, nhân rộng điển hình tiên tiến trong các phong trào của quần chúng nhân dân. Từ đã đúc rút những bài học kinh nghiệm, đề ra những giải pháp thiết thực, sát đúng có tính khả thi để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mục tiêu đã đề ra.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 286
Join date : 26/04/2012
Đến từ : Hochiminh City

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong V-4)   Sat Jul 06, 2013 5:17 am

Tôi đã đọc trang này - Lịch sử xã Tây Lương. Càng đọc càng hiểu kỹ về Người và Đất Tây Lương qua các thời kỳ.
Người viết sử có tâm ý sâu sắc đã viết được trang sử hào hùng, phần nào đáp ứng tâm nguyện Đảng bộ và nhân dân xã Tây Lương, Tiền Hải.
Với chủ đề này biết được bạn Bùi Tiến Dũng là con người yêu quê hương tha thiết.
Cám ơn Dũng rất nhiều.
Mong bạn có nhiều bài và chủ đề hay như thế.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://taytienhai76-79.forums1.net
 
Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong V-4)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH :: Linh Tinh Khác :: Kiến Thức Tổng Hợp-
Chuyển đến