CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH

NƠI GẶP GỠ CÁC BẠN CÙNG KHÓA, CÙNG TRƯỜNG, CÙNG QUÊ VÀ CÁC THẦY CÔ TRÊN KHẮP MỌI MIỀN
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
February 2018
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728    
CalendarCalendar
Social bookmarking
Social bookmarking digg  Social bookmarking delicious  Social bookmarking reddit  Social bookmarking stumbleupon  Social bookmarking slashdot  Social bookmarking yahoo  Social bookmarking google  Social bookmarking blogmarks  Social bookmarking live      

Bookmark and share the address of CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH on your social bookmarking website
Top posting users this month
Most active topics
NGUYỄN NGỌC BẢO VÀ CỰU HỌC SINH K76-79 GẶP NHAU Ở SÀI GÒN
Chùm thơ Phan Sĩ Phú
gặp mặt thường niên 2013 tại Sóc Sơn
Gặp mặt kỷ niệm 35 năm ra trường K76-79 (16-11-2014) tại Trường
ĐÁM CƯỚI CON TRAI CỦA HƯƠNG LỚP G TẠI TP.HCM
Lễ Vu Quy Con Gái Anh Khoa (lớp C) ở Hà Nội
HÌNH ẢNH KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY RA TRƯỜNG HỘI CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 TRƯỜNG PT CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Mời các bạn cựu HS cấp III Tây Tiền Hải khóa 76-79 gặp gỡ tại Vĩnh Phúc
Truyện ngắn 100 chữ
DANH SÁCH CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Latest topics
» Chúc mừng năm mới
Thu Mar 24, 2016 9:36 pm by buitiendung

» Chào xuân Bính Thân
Wed Feb 03, 2016 10:26 pm by buitiendung

» Chia buồn với gia đình bạn Phan Quốc Sự
Wed Jan 20, 2016 11:23 am by phanquocsu

» Thông báo mới
Wed Jan 20, 2016 11:22 am by phanquocsu

» Danh sach G
Wed Dec 30, 2015 4:30 pm by phanquocsu

» Thông báo khẩn
Fri Nov 20, 2015 10:49 pm by buitiendung

» Thông báo mời gặp mặt K76-79 trường TT Hải Năm 2015
Tue Oct 06, 2015 10:44 pm by buitiendung

» Thân gửi các bạn!
Sun Sep 27, 2015 8:41 pm by buitiendung

» Kỷ niệm 30 năm ra trường Hội HS K76-79 Cấp 3 Tây Tiền Hải
Fri Aug 21, 2015 11:35 pm by buitiendung

Keywords
Poll
Statistics
Diễn Đàn hiện có 62 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: Mrgift

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 772 in 271 subjects

Share | 
 

 Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong V-3)

Go down 
Tác giảThông điệp
buitiendung
Admin


Tổng số bài gửi : 158
Join date : 26/10/2012
Age : 55
Đến từ : Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong V-3)   Thu Jul 04, 2013 11:02 pm

III- ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN TÂY LƯƠNG TơIẾP TỤC THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (giai đoạn 1996 – 2000) Công cuộc đổi mới ở nước ta đã tiến hành được 10 năm và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về mọi mặt. Đất nước thoát khái khủng hoảng kinh tế - xã hội, cải thiện một bước đời sống vật chất của đông đảo nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng an Ninh được củng cố. Đã tạo được nhiều Tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước. Bên cạnh những thành tựu đạt được, nước ta cũng phải đối đầu với nhiều thách thức như nguy cơ tôt hậu về kinh tế, diễn biến hoà bình, tệ quan liêu, tham nhũng, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình thế giới và thực tiễn công cuộc đổi mới đặt ra cho Đảng ta những nhiệm vụ và bước đi mới. Để tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, được sự chỉ đạo của Huyện uỷ Tiền Hải, Đại hội đại biểu Đảng bộ xã Tây Lương lần thứ XXX (nhiệm kì 1996 – 2000) từ ngày 31/1 đến 1/2/1996, Đại hội có 110 đại biểu đại diện cho 298 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Đại hội đã đề ra phương hướng và những chỉ tiêu phự hợp với tình hình thực tế ở địa phương, để Đảng bộ và nhân dân trong xã phấn đấu thực hiện thành công công cuộc đổi mới theo đường lối của Đảng. việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kênh tế trong nông nghiệp, trong đã trồng trọt và chăn nuôi đã được kết hợp chặt chẽ với phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khuyến khích mở rộng ngành nghề truyền thống và dịch vô kênh doanh. Vì thế thực tế ở giai đoạn 1996 – 2000 nền kênh tế xã Tây Lương có tốc độ tăng trưởng tương đối khá, cơ cấu kinh tế luôn được chuyển dịch theo hướng tích cực. Ở giai đoạn này 100% hộ gia đình xã viên được giao ruộng đất ổn định lâu dài, vấn đề đã đã khuyến khích sản xuất phát triển, xã viên yên tâm đầu tư cải tạo trên mảnh ruộng được giao của mình. Diện tích gieo cấy trong 5 năm (1996 – 2000) bình quân toàn xã là 398,6 ha (đạt 100% kế hoạch đề ra), tiếp tục đổi mới cơ cấu giống và đã được thực hiện trên 90% diện tích. Về giống lúa, Hợp tác xã nông nghiệp đã sử dụng giống lai, giống thuần Trung Quốc có năng suất cao và 8% loại giống có giá trị kinh tế hàng húa cao. Năng suất lúa bình quân trong 5 năm đạt 113,09 tạ/ha(1). Tổng sản lượng bình quân đạt 4.507,67 tấn, lương thực bình quân đầu người đạt 687 kg/năm (đạt 94% so với mục tiêu Đại hội Đảng bộ lần thứ XXX đề ra). Về cây màu vô đông, do làm tốt công tác Tuyên truyền, cho nên trong những năm qua đã đạt được những kết quả tương đối khá, cây màu vụ đông có diện tích canh tác bình quân 29,62 ha được luân canh kháp kín theo Mùa vô. Ngoài cây Khoai lang và rau các loại, cây Ngô trong 2 năm 1996, 1997 đã trồng 24,95 ha; cây Dưa hấu cũng đưa vào trồng thử, năm 1998 trồng 1,72 ha, tổng giá trị cây vụ đông đạt trên 51 triệu đồng, đưa hệ số sử dụng đất lên 2,1 lần. Sản xuất lương thực đã đảm bảo nhu cầu của người dân và phục vô cho chăn nuôi. Giá trị 1 ha trồng trọt (lúa) bình quân đạt 22.130.000 đồng, so với môc tiêu Đại hội đề ra đạt 88,52%, nếu so với những năm 1995 thì tăng 2.600.000 đồng, bằng 13,4%. Kinh tế VAC cũng có chiều hướng phát triển tốt, góp phần tích cực trong việc khai thác tiềm năng kênh tế hộ gia đình nhằm xoá đói giảm nghèo cải thiện đời sống nhân dân. Về phong trào chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng phát triển cả về số lượng và chất lượng, trong xã nhiều hộ đã mở rộng chăn nuôi với quy mô vừa và lớn, họ đã mạnh dạn đầu tư vốn, áp dụng khoa học kỹ thuật, sử dụng thức ăn công nghiệp... đã cho hiệu quả kênh tế cao. Toàn xã thường xuyên có tổng đàn lợn là 3.559 con (so với năm 1995 tăng 3%, so với chỉ tiêu đạt 101%), trong đã lợn nái có 403 con, bình quân lợn giống xuất chuồng 7 kg/con, sản lượng đạt 40,7 tấn; lợn thịt 3.156 con, trọng lượng xuất chuồng bình quân 70 kg/con, sản lượng đạt 220 tấn. Giá trị chăn nuôi lợn đạt 2.472.500.000 đồng (hai tỷ bốn trăm bảy mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng chẵn). Về đàn trâu, bò bình quân trong năm có 182 con, so với năm 1995 giảm 38 con (nhưng thực tế đàn bò so với năm 1995 tăng). Giá trị thu 222.932.000 đồng/năm (hai trăm hai mươi hai triệu chín trăm ba mươi hai ngàn đồng trên năm). Chăn nuôi gia cầm cũng có bước phát triển khá, chủ yếu tập trung vào chăn nuôi loại giống cung cấp cho thương phẩm, cho năng suất cao như gà công nghiệp, ngan Pháp. Tổng đàn gia cầm có 24.000 con/năm (hai bốn ngàn con trên năm). Nhưng từ năm 1998 đến năm 2000 số đàn vịt và con vịt giảm 75% so với năm 1995. Giá trị thu từ chăn nuôi gia cầm đạt 1.091.700.000 đồng (một tỷ không trăm chín mốt triệu bảy trăm ngàn đồng chẵn), so với môc tiêu đề ra mới chỉ đạt 67%. Do Tuyên truyền và công tác vận động tốt cho nên trong nhân dân đã có 70% diện tích ao, hồ được cải tạo để chuyển từ thả cá sang nuôi cá. Trong xã số hộ nuôi thả cá có 272 hộ, với tổng diện tích ao, hồ là 61.500 m2 (trong đã có 20 hộ nuôi tập thể bằng 21.000 m2 và 252 nuôi theo gia đình bằng 40.500 m2, trong số hộ nuôi gia đình có 2 hộ nuôi con đặc sản, diện tích nuôi là 500 m2), sản lượng bình quân đạt 122 tấn/năm, giá trị thu đạt 976.000.000 đồng (chín trăm bảy mươi sáu triệu đồng). Thực hiện nghị quyết của Đảng bộ, phong trào cải tạo vườn tạp, trồng cây ăn quả, cây Hòe được nhiều hộ gia đình trong xã hưởng ứng. Đầu năm 2000 có 60% diện tích vườn tạp được cải tạo trồng các cây có giá trị kênh tế cao, đưa tổng giá trị thu nhập từ vườn bình quân là 208.160.000 đồng/năm (hai trăm linh tám triệu một trăm sáu mươi ngàn đồng trên năm). Để thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng bộ lần thứ XXX (nhiệm kì 1996 – 2000), Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vô, mở rộng ngành nghề, giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho kinh tế hộ gia đình, Từng bước xoá thế thuần nông. Giai đoạn từ 1996 – 2000 trong xã đã có nhiều hộ xã viên mạnh dạn đầu từ mua sắm phương tiện, máy mãc để phục vụ sản xuất kênh doanh(1). Năm 2000 có 5 doanh nghiệp và tổ hợp tư nhân ra đời, các nghề truyền thống như nề, mộc, cơ khí nhá cũng phát triển, bình quân mỗi ngày cũng thu hút từ 700 đến 800 lao động. Số hộ làm nghề khai thác cát, sản xuất vật Liệu xây dựng, làm các dịch vô kênh doanh... cũng tăng nhanh. Tổng giá trị thu từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kênh doanh dịch vụ, làm nghề... bình quân là 6.250.561.000 đồng (sáu tỷ hai trăm năm mươi triệu năm trăm sáu mốt ngàn đồng), chiếm 23,38% tổng thu nhập toàn xã. Về công tác tài chính: từ năm 1998 đến năm 2000 do thực hiện luật ngân sách cho nên việc quản lý thu chi ngân sách xã có bước chuyển biến, đã khắc phục được những tồn tại, đảm bảo nguyên tắc trong quản lý kinh tế, tận dụng các nguồn thu, tiết kiệm chi tiêu... đã hạn chế được tình trạng bội chi ngân sách(2). Được sự chỉ đạo của chính quyền xã, sự hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân ngày càng phát triển khá. Tính đến năm 2000 có 754 thành viên tham gia vay vốn và gửi Tiền tiết kiệm(3). Nhân dân được vay vốn từ quỹ tín dụng đã sử dụng đúng môc đích và có hiệu quả góp phần phục vụ cho sản xuất, phát triển kinh tế hộ gia đình. Trên lĩnh vực phát triển kinh tế của xã từ 1996 – 2000, nhìn chung đã có tốc độ tăng trưởng khá, bình quân có 5,48%/năm; tổng thu toàn xã bình quân đạt 26.740.391.000 đồng, tăng 27,4% so với năm 1995, so với chỉ tiêu Đại hội đạt 95,5%. Về xây dựng cơ sở hạ tầng: để phục vô sản xuất và đời sống của nhân dân, trong 5 năm 1996 – 2000, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, một số công trình trọng điểm đã được tập trung xây dựng. Bằng nguồn vốn của tập thể và nhân dân đóng góp, từ năm 1996 đến 1997 đã làm được 2000 một đường đá từ thôn Nghĩa đến thôn Trung Tiến với số vốn đầu tư là 237.933.000 đồng (hai trăm ba mươi bày chín trăm ba mươi ba ngàn đồng). Năm 1997 khởi công xây dựng tiếp phần móng Đài tưởng Niệm Liệt sỹ với số vốn là 92.068.000 đồng (chín mươi hai triệu không trăm sáu mươi tám ngàn đồng). Cùng với việc xây dựng các công trình lớn, nhân dân còn tập trung đóng góp tu bổ, sửa chữa, làm mới một số nhánh đường ngang dọc trong các thôn xóm. Kết quả làm đường mới được 1,5 km bằng vật Liệu cứng; sửa chữa Phụ trúc, duy tu, nâng cấp 2,5 km đường; đắp mới 5 km đường ngoài đồng; ngoài ra còn tu bổ, nạo vột kênh mương phục vụ tưới tiêu. Tuy nhiên, trong 5 năm từ 1996 – 2000, cấp uỷ, chính quyền đã có nhiều cố gắng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ phát triển kênh tế, song vẫn chưa khai thác tốt tờềm năng hiện có, tốc độ tăng trưởng kênh tế hàng hoá chưa cao, việc chuyển đổi cơ cấu kênh tế trong nông nghiệp còn chậm, chưa vững chắc, tỷ lệ diện tích cấy lúa đặc sản có giá trị kinh tế cao mới chỉ đạt được 5% tổng diện tích; diện tích cây màu vụ đông không lớn, canh tác còn manh mún, việc cải tạo vườn tạp, ao hoang còn chậm chạp, chăn nuôi gia súc, gia cầm chưa có hiệu quả cao, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề, kinh doanh dịch vụ tuy đã có bước phát triển nhưng quy mô còn nhỏ lẻ, việc đưa nghề mới về địa phương còn nhiều hạn chế. Công tác xây dựng cơ sở hạ tầng tiến độ còn chậm, quản lý thiếu chặt chẽ gây hoài nghi, thắc mắc trong nhân dân. Công tác quản lý đất đai, quản lý tài chính ngân sách xã từ năm 1996 – 1998 còn buông lỏng, không đúng nguyên tắc: như cấp bán đất không đúng thẩm quyền, lãng phí, thất thoát trong quản lý tài chính gây bức xúc trong nhân dân dẫn tới tình trạng khê đọng sản phẩm ở nhiều hộ gia đình xã viên. Về văn hóa xã hội: thực hiện nghị quyết 04 của Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII), Nghị quyết số 02 của của Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII), dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền xã, trong 5 năm (1996 – 2000) sự nghiệp giáo dục đã có nhiều đổi mới. Trong các nhà trường coi trọng giáo dục toàn diện, chất lượng dạy và học Từng bước được nâng lên. Trường THCS hàng năm có từ 580 đến 600 học sinh đến lớp (đạt tỷ lệ 98%); trường Tiểu học cũng đạt từ 670 đến 700 học sinh đến lớp; trường Mẫu giáo thường xuyên có 190 đến 220 cháu trong độ tuổi đến lớp đạt tỷ lệ 80%; Nhà trẻ có từ 105 đến 115 cháu thường xuyên đến lớp đạt 57%. Trường THCS và Tiểu học đạt tiêu chuẩn phổ cập cấp i và cấp iê. Trường THCS nhiều năm (17 năm) liên tục đạt danh hiệu tiên tiến cấp tỉnh. Sự hoạt động của các đoàn thể trong khối nhà trường được duy trì có nề nếp. Hàng năm tỷ lệ học sinh thờ chuyển cấp đạt 97%, thì lên lớp đạt 98 – 99%. Bình quân hàng năm số học sinh được vào học PTTH trên 250 em trở lên, đỗ vào các trường Cao đẳng, Đại học từ 15 đến 20 em. Uỷ ban nhân dân xã hỗ trợ về kinh phí mỗi năm từ 10 triệu đồng trở lên, cùng với sự đóng góp của Phụ huynh học sinh đã tập trung tu bổ, sửa chữa, nâng cấp trường lớp, bổ sung trang thiết bị đảm bảo cho việc dạy và học tốt. Về công tác y tế: luôn được cấp uỷ, chính quyền quan tâm. Tổ chức làm tốt nhiệm vụ thăm khám, chữa bệnh, chăm sóc bảo vệ sức khỏe ban đầu cho nhân dân; mạng lưới y tế ở cơ sở từ xã đến xóm hoạt động đều. Công tác Tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chương trình y tế cộng đồng được tiến hành thường xuyên có kết quả. Việc tổ chức tiêm chủng mở rộng theo chương trình, phòng chống các loại dịch bệnh, loại trõ các bệnh nguy hiểu đối với Phụ nữ có thai và trẻ em từ 1 đến 60 tháng tuổi đạt 98%, công tác vệ sinh môi trường, sử dụng nước sạch được chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả cao, đã hạn chế tối đa không để dịch bệnh xảy ra trên địa bàn xã. Để thực hiện cuộc vận động “dân số kế hoạch hoá gia đình” được tốt, cấp uỷ, chính quyền tổ chức các đợt Tuyên truyền, vận động trong nhân dân, đối với các đối tượng trọng độ tuổi sinh đẻ thì kết hợp giữa Tuyên truyền với những biện pháp kỹ thuật chuyên môn, làm cho bản thân họ tự giác chọn cho mình một biện pháp an toàn và phự hợp, thực hiện mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ 1 đến 2 con. Trong giai đoạn từ 1996 – 2000 Tây Lương có tỷ lệ sinh tự nhiên 1,26%. Công tác thông tin truyền thanh: đây là công việc đòi hái phải được tiến hành thường xuyên, đều đặn và có độ chính xác cao. Được sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền công tác thông tin, truyền thanh xã ngày càng được đảm bảo tốt. Chất lượng, nội dung tên bài mỗi ngày được nâng lên; lịch phát thanh được duy trì đều đặn mỗi ngày 2 buổi. Thực hiện chế độ tiếp âm 3 cấp (Trung ương, Tỉnh và Huyện). Trong giai đoạn từ 1996 đến 2000, Đài Truyền thanh xã Tây Lương đã hoàn thành tốt nhiệm vô, thực hiện tốt chế độ làm việc, với nội dung Tuyên truyền phong phú. Ngoài Tuyên truyền về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Đài còn thường xuyên thông báo về tình hình địa phương đến với toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã. Thông qua Đài Truyền thanh xã, sự hoạt động về văn hóa có nhiều đổi mới, bản sắc văn hóa và truyền thống của địa phương ngày được phát huy, nếp sống văn hóa mới trong các khu dân cư được thực hiện và trở thành phong trào. Thông qua đã đã hạn chế được những hủ tục rườm rà, lạc hậu trong việc cưới, việc tang và những thói hư tật xấu trong đời sống xã hội. Về đời sống vật chất cũng như đời sống về tinh thần của nhân dân Tây Lương ngày càng được nâng lên, cảnh sắc quê hương nông thôn ngày một đổi mới. Tính đến năm 2000 nhà ở của nhân dân Tây Lương được xây dựng kiên cố đạt 96% (trong đã nhà 1 tầng có 90%; nhà 2 tầng, 3 tầng 6%). Mọi phương tờện sinh hoạt, kể cả phương tờện nghe nhìn hiện đại được nhân dân mua sắm nhiều và sử dụng tương đối phổ biến, phục vụ cho cuộc sống, dân sinh. Tuy nhiên, công tác văn hóa – xã hội, thông tin truyền thanh đã có bước chuyển biến tích cực, song vẫn còn một số mặt cần phải được khắc phục đó là: việc xây dựng làng, xóm văn hóa và gia đình văn hóa còn chậm và thấp; việc lợi dụng tự do tín ngưỡng, làm trái với quy định 212 của Tỉnh trong nhân dân còn diễn ra; công tác bảo quản, quản lý Khu du tích lịch sử văn hóa chưa được chặt chẽ, tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chố, trộm cắp giảm chưa đáng kể; chất lượng giáo dục trong các nhà trường chưa cao, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học còn thiếu và yếu; phương tiện, trang thiết bị, điều kiện chăm sóc, điều trị cho nhân dân còn bất cập, tỷ lệ sinh con thứ 3 còn cao. Những tồn tại về công tác văn hóa – xã hội đã được cấp uỷ Đảng, chính quyền rút kinh nghiệm để lãnh đạo, chỉ đạo để thực hiện tốt trong giai đoạn sau. Về công tác quân sự: Ban Quân sự xã đã làm tốt công tác tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền xã, đồng thời phối kết hợp với Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh Niên hàng năm tổ chức các đợt (2 đợt) huấn luyện cho lực lượng dự bị và dân quân, tham gia hội thao quân sự ở huyện đã đạt kết quả cao(1). Trong 5 năm (1996 – 2000) đã làm tốt công tác quản lý, gọi thanh Niên đăng ký nghĩa vụ và sơ khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Trong 5 năm có 61 thanh Niên nhập ngũ, đảm bảo 100% chỉ tiêu trên giao. Đối với các đối tượng chính sách, hàng năm cấp uỷ Đảng, chính quyền xã, thôn xóm thường xuyên quan tâm thăm hái, tặng quà vào các dịp lễ tết. Các chế độ đối với các đối tượng chính sách được đảm bảo. Từ 1996 đến 2000 nhân dân cùng với các đoàn thể chính trị xã hội trong xã đã đóng góp và mua 28 sổ tiết kêệm (tình nghĩa) tặng các bà mẹ Việt Nam anh hùng và các đối tượng chính sách có hoàn cảnh khó khăn với tổng số tiền là 7.800.000 đồng(1). Việc làm tình nghĩa đã đã được nhân dân đồng tình ủng hộ, các đối tượng thuộc diện chính sách yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương. Công tác an Ninh, trật tự an toàn xã hội trong 5 năm (1996 – 2000) cấp uỷ, chính quyền đã tập trung chỉ đạo, làm tốt công tác Tuyên truyền, giáo dục pháp luật, phát động được phong trào toàn dân bảo vệ Tổ quốc. Duy trì chế độ giao ban, hội ý, hội báo giữa các thành viên Uỷ ban nhân dân và Ban An Ninh. Tổ chức tuần tra, canh gác, tấn công truy quét tội phạm, xử lý nghiêm những đối tượng có hành vi vi phạm kỷ luật. Mười hai tổ hoà giải ở các cơ sở xóm hoạt động tích cực, đã giải quyết kịp thời những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân(2). Các hủ tục lạc hậu mê tín dị đoan, nghiện hút được kịp thời ngăn chặn, tình hình an Ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong địa bàn xã cơ bản được ổn định. Giai đoạn từ 1996 – 1997 Ban Công an xã Tây Lương đạt đơn vị quyết thắng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3; năm 1998, 1999 xã được công nhận là đơn vị tiên tiến. Tuy nhiên, từ năm 1997 trở đi, trong bối cảnh chung của Tỉnh, của Huyện, bên cạnh những kết quả đạt được qua 10 năm đổi mới đã nẩy sinh không ít những vấn đề bức xúc. - Từ tháng 6/1997 đến tháng 8/1999 có nhiều khiếu kiện của nhân dân, chủ yếu đề cập về tình trạng tham nhũng, mất dân chủ của một bộ phận cán bộ đảng viên có chức có quyền. Về quản lý tài chính kinh tế, việc cấp bán đát trái thẩm quyền, về chính sách xã hội không công bằng và các khoản thu vượt quá sức dân. Tình hình đã đã gây lên mất ổn định chính trị, gây hậu quả xấu trên nhiều mặt.Việc thác mắc khiếu kiện của nhân dân cơ bản là đúng và chính đáng. Xã Tây Lương cũng trong hoàn cảnh trên, một bộ phận nhân dân đã kiến nghị lên Đảng uỷ,UBND đòi công khai làm rõ việc cấp bán đất và sử dụng Tiền bán đất, quản lý và sử dụng các loại quỹ, đề nghị công khai việc thanh quyết toán chi phí xây dựng các công trình phúc lợi như đường, Điện, nhà bia Liệt sỹ, tu bổ trụ sở UBND xã ... Một số chi bộ Đảng, chi hội Cựu Chiến Binh có kiến nghị (bằng văn bản) tới thường trực đảng, UBND xã đề nghị làm rõ những vấn đề kinh tế Thu - Chi tài chính của xã. Ngày 19/10/1997 một đoàn gồm 18 người của 4 xóm kéo lên Huyện đòi trả ngay các khoản đóng góp của nhân dân. Những diễn biến mất ổn định đã tác động trực tiếp đến an Ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến quá trình phát triền KT- XH và đời sống của nhân dân xã Tây Lương. Để xẩy ra tình trạng mất ổn định là do quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công cuộc đổi mới còn tỏ ra nóng vội giai đoạn 1990-1997 một số cán bộ không đáp ứng được yêu cầu của cơ chế mới dẫn đến buông lỏng, thiếu dân chủ trong quản lý đất đai, quản lý tài chính. tác phong làm việc còn quan liêu, không lắng nghe và giải quyết những kiến nghị chính đáng của nhân dân. những tiêu cực trong việc xây dựng cơ bản và quản lý kinh tế đã làm giảm lòng tin gây bất bình trong nhân dân. Trong lúc đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, việc huy động nhân dân đóng góp để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng quá lớn (thuế và các loại quỹ trên 20 khoản). Trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện thì không công khai, thiếu dân chủ. Việc cấp bán đất còn tuỳ tiện, nể nang, tiền cấp bán đất không được công khai minh bạch. Nhiệm vụ Tuyên truyền về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về đất đai, tài chính còn xem nhẹ. Trước tình hình thực tế bức xúc và từ khi nhận được kiến nghị của một số Chi bộ và chi hội Cựu chiến binh cùng việc khiếu kiện của nhân dân, trong tháng 6/1997 Ban Chấp hành Đảng bộ xã đã họp (20/6/1997) phân tích, nhận định rõ tình hình, tìm ra nguyên nhân mất ổn định và đề ra hướng giải quyết. Ban Chấp hành Đảng bộ đã xác định cần phải được tập trung sự lãnh đạo của Đảng bộ để giải quyết nhằm ổn định tình hình. Phân công các đồng chí trong Ban Thường vụ Đảng uỷ thường trực tại trò sở để tiếp dân, chủ động giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc của dân một cách khách quan, các đồng chí Đảng uỷ viên được phân công về Từng cơ sở xóm để cùng họp, cùng bàn, nắm bắt tình hình trong dân để tham mưu giúp cấp trên triển khai giải quyết. Đồng thời Đảng uỷ cũng chấn chỉnh lề lối, tác phong làm việc của một số cán bộ về sự quan liêu, hống hách xa dân đã làm tình hình đã căng thẳng lại càng bức xúc thêm. Ban Chấp hành Đảng bộ đã quán triệt tình hình, chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân trong đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng phải phự hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đối với những người quá khích, lợi dụng dân chủ làm mất trật tự cần phải được giáo dục, thuyết phục và lên án, nếu cần phải sử dụng đến biện pháp hành chính để giải quyết. Để chỉ đạo giải quyết những vấn đề bức xúc, sớm ổn định tình hình, ngày 12/1/1998 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành nghị quyết số 06 “về những chủ trương, giải pháp giải quyết tình hình trong tỉnh”. Đây là nghị quyết có vị trí quan trọng quyết định đến phương hướng ổn định, giải quyết những khó khăn. Nghị quyết 06 đã đáp ứng sự mong đợi của cán bộ và nhân dân trong tỉnh. Cùng với Đảng bộ và nhân dân trong huyện, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đã tổ chức quán triệt học tập và triển khai thực hiện nghị quyết 06 với tinh thần nghiêm túc. Qua học tập và thực hiện nghị quyết, tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân đều phấn khởi, tên tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tự hào về truyền thống cách mạng và những thành tích mà Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đã giành được trong các thời kì cách mạng. Những vấn đề mất ổn định cần phải bình tĩnh tìm ra nguyên nhân có những giải pháp đúng để giải quyết và ổn định tình hình. Ngày 25/7/1998 Đảng bộ xã Tây Lương đã có nghị quyết đề nghị Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện Tiền Hải kiểm tra, thanh tra kênh tế tài chính xã Tây Lương. Thể theo nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân, căn cứ vào tình hình thực tại mất ổn định tại xã Tây Lương, Uỷ ban nhân dân huyện Tiền Hải ra quyết định số 243 ngày 10/9/1998 thành lập đoàn thanh tra do ông Phạm Thanh Cảm (Phó Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Huyện uỷ) làm trưởng đoàn. Tham gia đoàn thanh tra: về phía xã, Đảng bộ bầu 5 đồng chí đảng viên có năng lực nghiệp vụ, ngoài ra thanh tra nhân dân xã còn cử 4 thành viên tham gia đoàn. Đoàn Thanh tra đã tiến hành kiểm tra làm rõ nội dung trong báo cáo kết luận thanh tra (trước đó) của Uỷ ban kiểm tra Huyện uỷ, ngoài ra đoàn còn làm rõ thêm một số đề nghị của Đảng bộ và nhân dân với các nội dung sau: - Quản lý thu, chi ngân sách xã từ năm 1992 – 1997. - Các chỉ tiêu đóng góp của nhân dân đối với Nhà nước từ 1992 – 1997. - Công tác quản lý xây dựng các công trình xây dựng cơ bản của xã từ 1992 – 1997. - Công tác quản lý cấp, bán đất xây dựng nhà ở từ 1992 – 1997. - Quản lý thu, chi kinh tế tài chính Hợp tác xã nông nghiệp từ 1992 – 1997. Sau một thời gian làm việc hết sức nghiêm túc (từ tháng 9/1998 đến ngày 16/8/1999) đoàn thanh tra đã đưa ra bản kết luận có tính khách quan và độ chính xác cao. Theo bản kết luận thanh tra thì: - Tổng số sai phạm về kinh tế phải được thu hồi về cho ngân sách xã và Hợp tác xã là 363.552.300 đồng (trong đã thu về cho ngân sách xã là 294.977.179 đồng; thu về cho Hợp tác xã nông nghiệp là 68.575.121 đồng)(1). - Cấp bán đất sai, trái thẩm quyền là 18.264 m2 cho 147 hộ(2). Sau hơn 1 năm thực hiện nghị quyết 06 của Tỉnh uỷ, được sự chỉ đạo của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện, Ban Chấp hành Đảng bộ đã tập trung chỉ đạo cán bộ, đảng viên, nhân dân và các đoàn hội trong xã thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả. Tình hình chính trị ở cơ sở Tây Lương Từng bước được ổn định, Đảng bộ và nhân dân tiếp tục xây dựng và phát triển kênh tế - xã hội. - Về công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân: Đại hội Đảng bộ xã Tây Lương lần thứ XXX (nhiệm kì 1996 – 2000) được diễn ra từ ngày 31/1 đến 1/2/1996. Đại hội đã đề ra nghị quyết và các chỉ tiêu để Đảng bộ và nhân dân trong xã thực hiện trong giai đoạn từ 1996 – 2000. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 12 đồng chí, trong đã có 10 đồng chí được tái cử. Đồng chí Hoàng Văn Thái được bầu giữ chức Bí thư Đảng uỷ, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng giữ chức Phó Bí thư Đảng uỷ đồng chí Tô Ngọc Lãm làm chủ tịch. Đến tháng 5/1998 (do tình hình mất ổn định) một số đồng chí cán bộ chủ chốt bị sử lý kỷ luật và thôi việc Tại hội nghị đảng uỷ và kì họp bất thường Hội đồng nhân dân xã (khoá 26) đã kiện toàn tổ chức bầu các đồng chí: Tô Đình Sót – Bí thư Đảng uỷ, Ngô Xuân Thuỷ - Thường vụ Đảng uỷ - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, Hoàng Văn Thợ - Thường vụ Đảng uỷ - Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp, đồng chí Tạ Ngọc Thạch đảng uỷ viên chủ tịch hội đồng nhân dân xã. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo Đảng bộ luôn coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, thường xuyên Tuyên truyền về đường lối chính sách của Đảng, pháp luận của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã. Các đợt quán triệt nghị quyết của Đảng các cấp và những chủ trương nhiệm vô chính trị ở địa phương, được Đảng uỷ tổ chức học tập nghiêm túc. Về công tác tổ chức: thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng, hàng năm các chi bộ trong Đảng bộ tổ chức Đại hội, kiện toàn Ban Chi uỷ đủ số lượng quy định và có chất lượng. Đảng bộ cũng như các Chi bộ duy trì sinh hoạt (định kì) có nề nếp, chuẩn bị tốt nội dung, trong sinh hoạt đã phát huy tinh thần đấu tranh phi và tự phi bình mang tính Đảng cao. Công tác kiểm tra Đảng được thực hiện đúng kế hoạch, đủ nội dung đảm bảo yêu cầu đặt ra. Trong 5 năm (1996 – 2000) toàn Đảng bộ có 298 đảng viên, sinh hoạt ở 15 Chi bộ (12 Chi bộ xóm và 3 Chi bộ chuyên). Đảng viên tuổi cao, sức yếu được miễn sinh hoạt là 45 đồng chí, có 124 đồng chí đảng viên giữ các chức danh công tác từ xã đến xóm và các ban, ngành, đoàn thể; còn lại 129 đảng viên đều được cấp uỷ giao nhiệm vô công tác. Hàng năm các tổ chức Đảng, đảng viên được đánh giá phân loại và phấn đấu đạt kết quả tốt. Năm 1996 có 11 Chi bộ đạt Chi bộ trong sạch vững mạnh, 2 Chi bộ đạt khá, 2 Chi bộ đạt trung bình. Năm 1997 có 6 Chi bộ đạt Chi bộ trong sạch vững mạnh, 6 Chi bộ đạt khá, 3 Chi bộ đạt trung bình. Năm 1998 có 7 Chi bộ đạt Chi bộ trong sạch vững mạnh, 5 Chi bộ đạt khá, 3 Chi bộ đạt trung bình. Năm 1999 phân loại theo tinh thần nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), Đảng bộ Tây Lương có 2 Chi bộ đạt chi bộ trong sạch vững mạnh, 13 Chi bộ đạt khá. Về phân loại chất lượng đảng viên: qua kiểm tra tự phi bình và phi bình thông qua Chi bộ góp ý kiến bổ sung sau đã bá phiếu tín nhiệm, kết quả đạt như sau: Năm 1996 có 281 đồng chí dự phân loại: loại 1 có 155 đồng chí; loại 2 có 92 đồng chí; loại 3 có 20 đồng chí; loại 4 có 9 đồng chí; loại 5 có 5 đồng chí. Năm 1997 có 280 đồng chí dự phân loại: loại 1 có 157 đồng chí; loại 2 có 70 đồng chí; loại 3 có 53 đồng chí. Năm 1998 có 280 đồng chí dự phân loại: loại 1 có 193 đồng chí; loại 2 có 79 đồng chí; loại 3 có 7 đồng chí; loại 5 có 1 đồng chí. Năm 1999 có 250 đồng chí dự phân loại: loại 1 có 176 đồng chí; loại 2 có 63 đồng chí; loại 3 có 11 đồng chí. Công tác phát triển đảng viên trong nhiệm kì 1996 – 2000: Đảng bộ Tây Lương luôn coi trọng công tác phát triển Đảng. Cấp uỷ từ Đảng uỷ đến các Chi uỷ Chi bộ luôn chú ý việc tìm nguồn, tìm những người tốt trong quần chúng nhân dân; nhất là trong các tổ chức Đoàn Thanh Niên, Hội Phụ nữ; giao cho đảng viên kèm cặp giúp đỡ, giới thờệu cho Đảng những thanh Niên ưu tú để cử đi học những lớp bồi dưỡng nâng cao nhận thức về Đảng, về lý luận chủ nghĩa Mác – lênin. Từ 1996 – 2000 Đảng bộ Tây Lương đã kết nạp vào Đảng 28 đồng chí đảng viên(1). Hầu hết các đồng chí đảng viên mới được kết nạp đủ tiêu chuẩn về mọi mặt, phát huy tốt vai trò Tiền phong gương mẫu trong các phong trào của địa phương. Họ là lớp người mới, trẻ khỏe có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác. Đối với đảng viên trong Đảng bộ, Đảng uỷ đã xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Trong nhiệm kì đã cử 14 đồng chí đi học tại trường chính trị tỉnh Thái Bình, 83 lượt cán bộ, đảng viên được đi học tập bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vô ở trung tâm chính trị huyện. Thực hiện nghiêm túc điều lệ Đảng về công tác kiểm tra Đảng, trong 5 năm (từ 1996 – 2000) Đảng bộ xã Tây Lương đã có 15/15 Chi bộ thực hiện nghiêm chế độ kiểm tra theo quy định và chương trình kiểm tra của cấp uỷ. Trong Đảng bộ có 70 lượt đảng viên được kiểm tra; kết quả kiểm tra đã xử lý kỷ luật 8 đảng viên (khai trõ 1, xoá tên 2, cảnh cáo 3, cách chức 2). Qua công tác kiểm tra Đảng đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành các nguyên tắc, tổ chức kỷ luật trong Đảng, phòng ngâa, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng đối với quần chúng nhân dân. - Công tác xây dựng chính quyền: Căn cứ vào luật và chức năng nhiệm vụ, Hội đồng nhân dân xã đã duy trì các kì họp đúng với thời gian quy định; luôn luôn đổi mới nội dung và phương thức hoạt động. Tổ chức tốt việc tiếp xúc cử tri, mở rộng dân chủ, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của cử tri. Nội dung các kì họp mọi vấn đề được thảo luận kỹ và đi đến thống nhất trước khi ra Nghị quyết, khi tổ chức thực hiện đạt kết quả cao. Năm 1997 cấp uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cuộc bầu cử Quốc hội đạt kết quả tốt, đảm bảo an toàn đúng luật. Hội đồng nhân dan xã nhiệm kì 1999 – 2004 có 21 người, chính quyền xã được sắp xếp theo nghị định số 09 của Chính phủ. Hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền được nâng cao; quy chế dân chủ được triển khai và thực hiện tốt. - Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân (giai đoạn 1996 – 2000): Mặt trận Tổ quốc luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, tích cực Tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị, tham gia tích cực vào phong trào phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới. Hội Phụ nữ hoạt động nề nếp, với phong trào giúp nhau xây dựng kênh tế gia đình, nuôi con kháe, dạy con ngoan, xây dựng gia đình hạnh phúc, không để trẻ em bá học. Hội Nông dân có phong trào nông dân sản xuất kênh doanh giái, phát triển kênh tế hộ gia đình. Hội Cựu chiến binh gương mẫu trong mọi hoạt động, luôn luôn phát huy truyền thống anh bộ đội cô Hồ. Hội Người cao tuổi hưởng ứng phong trào thi đua: "Tuổỉ cao - gương sáng” lập nhiều thành tích đáng trân trọng. Đoàn Thanh Niên với chương trình và phong trào thanh Niên lập nghiệp, tuổi trẻ giữ nước. Các đoàn thể với những nội dung hoạt động, trong đã nội dung lập dự án tín chấp vay vốn ngân hàng, tạo nguồn vốn cho hội viên phát triển kênh tế là nội dung hấp dẫn và thiết thực nhất(1). Các đoàn thể còn tổ chức cho hội viên tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật về nuôi trồng cây, con và nguồn vốn vay được sử dụng đúng môc đích, qua đã đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống nhân dân. Trong 5 năm (từ 1996 – 2000) công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng xã Tây Lương đã có nhiều cố gắng đạt được những thành tích rất đáng trân trọng, song cũng còn nhiều hạn chế cần phải được khắc phục trong công cuộc đổi mới ở giai đoạn sau.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong V-3)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH :: Linh Tinh Khác :: Kiến Thức Tổng Hợp-
Chuyển đến