CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH

NƠI GẶP GỠ CÁC BẠN CÙNG KHÓA, CÙNG TRƯỜNG, CÙNG QUÊ VÀ CÁC THẦY CÔ TRÊN KHẮP MỌI MIỀN
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
May 2018
MonTueWedThuFriSatSun
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   
CalendarCalendar
Social bookmarking
Social bookmarking digg  Social bookmarking delicious  Social bookmarking reddit  Social bookmarking stumbleupon  Social bookmarking slashdot  Social bookmarking yahoo  Social bookmarking google  Social bookmarking blogmarks  Social bookmarking live      

Bookmark and share the address of CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH on your social bookmarking website
Top posting users this month
Most active topics
NGUYỄN NGỌC BẢO VÀ CỰU HỌC SINH K76-79 GẶP NHAU Ở SÀI GÒN
Chùm thơ Phan Sĩ Phú
gặp mặt thường niên 2013 tại Sóc Sơn
Gặp mặt kỷ niệm 35 năm ra trường K76-79 (16-11-2014) tại Trường
ĐÁM CƯỚI CON TRAI CỦA HƯƠNG LỚP G TẠI TP.HCM
Lễ Vu Quy Con Gái Anh Khoa (lớp C) ở Hà Nội
HÌNH ẢNH KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY RA TRƯỜNG HỘI CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 TRƯỜNG PT CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Mời các bạn cựu HS cấp III Tây Tiền Hải khóa 76-79 gặp gỡ tại Vĩnh Phúc
Truyện ngắn 100 chữ
DANH SÁCH CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Latest topics
» Chúc mừng năm mới
Thu Mar 24, 2016 9:36 pm by buitiendung

» Chào xuân Bính Thân
Wed Feb 03, 2016 10:26 pm by buitiendung

» Chia buồn với gia đình bạn Phan Quốc Sự
Wed Jan 20, 2016 11:23 am by phanquocsu

» Thông báo mới
Wed Jan 20, 2016 11:22 am by phanquocsu

» Danh sach G
Wed Dec 30, 2015 4:30 pm by phanquocsu

» Thông báo khẩn
Fri Nov 20, 2015 10:49 pm by buitiendung

» Thông báo mời gặp mặt K76-79 trường TT Hải Năm 2015
Tue Oct 06, 2015 10:44 pm by buitiendung

» Thân gửi các bạn!
Sun Sep 27, 2015 8:41 pm by buitiendung

» Kỷ niệm 30 năm ra trường Hội HS K76-79 Cấp 3 Tây Tiền Hải
Fri Aug 21, 2015 11:35 pm by buitiendung

Keywords
Poll
Statistics
Diễn Đàn hiện có 62 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: Mrgift

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 772 in 271 subjects

Share | 
 

 Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong V-1,2,3)

Go down 
Tác giảThông điệp
buitiendung
Admin


Tổng số bài gửi : 158
Join date : 26/10/2012
Age : 55
Đến từ : Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong V-1,2,3)   Thu Jul 04, 2013 11:01 pm

CHƯƠNG NĂM ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN TÂY LƯƠNG THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 - 2005)
I- TÂY LƯƠNG THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG GiAI ĐOẠN 1986 - 1990 Sau những năm xây dựng Chủ nghĩa xã hội, khôi phục và phát triển kênh tế, ổn định đời sống nhân dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã diễn ra với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật để phân tích, đánh giá những thành tích đã đạt được, những tồn tại cần được khắc phục trong 10 năm từ 1976 đến 1985, trên cơ sở Đại hội đã đề ra những chủ trương, giải pháp để xây dựng đất nước. Đại hội thẳng thắn chỉ ra vấn đề cốt lâi phải tiến hành đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, nhưng trước nhất phải đổi mới tư duy về kênh tế là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng. Đây là vấn đề hết sức trọng đại có ý nghĩa sống còn đối với chế độ và đất nước. Từ tháng 4 /1986 đến tháng 12/1988 Tây Lương đã diễn ra 2 kì đại hội (đại hội đảng bộ lần thứ 25 tháng 4/1986 - 4/1987), đại hội đảng bộ lần thứ 26 (Tháng 4/1987 - 10/1988). Đồng chí Hoàng Xuân Đĩnh vẫn được bầu làm bí thư đảng bộ, đồng chí Nguyễn Văn Nềnh vẫn được bầu làm chủ tịch UBND xã. Suốt 2 kì đại hội đều diễn ra trong bối cảnh đất nước quê hương có nhiều khó khăn, tình hình thế giới có nhiều biến đổi phức tạp, tác động đến mọi hoạt động trong xã. Song đảng bộ và nhân dân đã phấn đáu nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức; nắm vững và vận dụng sáng tạo những quan điểm, tư tưởng đổi mới của đảng, quán triệt sâu sắc nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XIII, nghị quyết đại hội đảng bộ huyện Tiền Hải lần thứ XX, nên đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Tuy còn nhiều khuyết điểm, thiếu sút và còn bộc lộ nhiều khó khăn mới, nhưng phải khảng định rằng những kết quả đạt được trong những năm qua là hết sức cơ bản, tạo điều kiện cho Đảng bộ và nhân dân trong xã vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vô những năm tiếp theo. Quá trình thực hiện nghị quyết Đại hội đảng bộ các khoá từ XXV đến XXVI, Đảng uỷ, các chi uỷ chi bộ, uỷ ban nhân dân, hợp tác xã nông nghiệp có nhiều nghị quyết chuyên đề về phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện mọi nhiệm vô chính trị của Đảng các cấp. Trên tinh thần chỉ đạo của Đảng cấp trên và sự nhận thức của toàn Đảng bộ, sác định nông nghiệp thực sự là mặt trận hàng đầu; Cần phải được tập trung phát triển đi lên. Thực tế ở Tây Lương năm 1987 tổng diện tích gieo trồng toàn xã đã đạt tới 407 ha, cây mầu vụ đông 35 ha, đạt 100% kế hoạch đề ra. Vô xuân 1987 do thời tiết không thuận, sâu bệnh phát triển gây hại nặng ở hầu hết các cánh đồng, nên năng xuất lúa xuân đạt thấp. Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã. hợp tác xã nông nghiệp đã rút kinh nghiệm, tập trung chỉ đạo sản xuất vô Mùa (để lấy Mùa bự chiêm), các giống lúa, trà lúa đều tốt, năng xuất cả năm đạt 6,9 tấn/ha. Cùng vúi cây lúa, hầu hết các cây mầu đều đạt năng xuất khá ( khoai lang đạt 8 tấn/ha, lạc 1,2 tấn/ha, ngô 1,5 tấn/ha, đậu, đỗ các loại đạt 1,1 tấn/ha. Về chăn nuôi: tổng đàn trâu, bò, lợn, gà, vịt đều tăng cả về số lượng và chất lượng (đàn lợn tính đến tháng 12/1987 toàn xã có 2.500 con, tăng so với chỉ tiêu đề ra là 32 con, bình quân trọng lượng xuất chuồng là 55 kg/con, sản lượng lợn hơi đạt 157 tấn; đàn trâu, bò có 261 con, tăng 3%; gia cầm có 30.000 còn, cũng tăng so với kế hoạch đề ra; diện tích ao, hồ của tập thể và gia đình có diện tích 60.000 m2 đã được chú ý đến việc thả và nuôi cá). Về văn hóa xã hội: thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng con người mới, nếp sống mới xã hội chủ nghĩa. Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng phục vô cho công tác văn hoá xã hội, xây dựng nông thôn mới. Về nhiệm vụ quốc phòng: hàng năm phải bảo đảm đủ số lượng, chất lượng thanh Niên làm nghĩa vụ quân sự; tổ chức huấn luyện tại chỗ lực lượng dự bị; công tác an Ninh, trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững, Từng bước hạn chế tai tệ nạn xã hội. Đại hội đã nghiêm khắc kiểm điểm những mặt còn yếu kộm, rút ra những bái học kinh nghiệm; Việc thực hiện khoán sản phẩm đến nhúm và người lao động trong sản xuất nông nghiệp có chiều hướng chững lại, chủ yếu do năng lực thực hiện của cán bộ, Đảng viên còn nhiều yếu kém, còn áp đặt mệnh lệnh, không tôn trọng quyền làm chủ của xã viên, không công khai nội dung khoán và phân phối sản phẩm; Giá trị ngày công và thu nhập của xã viên giảm, nợ đọng sản phẩm của xã viên ngày càng tăng. Nắm bắt khó khăn ở cơ sở, ngày 5/4/1988, Bộ chính trị Trung Ương Đảng đã ra nghị quyết "Đổi mới quản lý nông nghiệp" (thường gọi là nghị quyết 10) mở đường cho sự phát triển nông thôn ,nông nghiệp theo hướng cơ chế khoán mới. Tháng 11/1988, Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXVII (nhiệm kì 1988 - 1991) đồng chí Hoàng Minh Đa được bầu làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Đức Tuấn làm chủ tịch UBND xã. Đại hội nghiêm túc đánh giá những mặt đã đạt được và chưa đạt được, kiểm điểm những tồn tại, yếu kộm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của nhiệm kì (1987 - 1988). Đại hội đã rút ra những kinh nghiệm trong việc lãnh đạo, tổ chức thực hiện của nhiệm kì tiếp theo. Sau 2 năm từ 1989 độn 1990: thực hiện nghị quyết 10 đại hội đảng bộ huyện Tiền Hải lần thứ XXI. Đảng bộ và nhân dân xã Tây Lương đã dành được những kết quả tương đối toàn diện trên mặt trận sản xuất nông nghiệp có bước đi lên, năng suất lúa cả năm đạt 6,9 tấn/ha(1) (vụ xuân đạt 4 tấn, vụ Mùa đạt 2,9 tấn/ha), so với năm 1987 tổng sản lương tăng 11 tấn. Bình quân lương thực đầu người (trong 2 năm) đạt xấp xỉ 400 kg/năm. Hàng năm Tây Lương hoàn thành tổng mức lương thực với Nhà nước. Ngoài cây lúa, một số cây mầu được nhân dân chú trọng, trồng trên đất 2 lúa như Ngô, Khoai lang... cũng cho năng suất tương đối cao. Về chăn nuôi: số lượng trâu, bò (trong 2 năm) ổn định, đàn lợn nuôi trong hộ xã viên phát triển mạnh. Quỹ đất 5% được triển khai cấp cho hộ xã viên từ tháng 10/1986 được nhân dân coi trọng sản xuất có hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn những tồn tại cần được khắc phục: năng suất lúa vẫn đạt thấp so với kế hoạch đề ra; phong trào VAC, kết hợp vườn - ao - chuồng chưa có kết quả cao; việc đưa cây, con có giá trị cao vào sản xuất còn chậm; tiểu thủ công nghiệp, dịch vô, ngành nghề phát triển chưa tương xứng với tờềm năng của xã; công tác quản lý và điều hành trong sản xuất chưa chặt chẽ, khoa học và nhịp nhàng. Tuy nhiên, trong 5 năm (1986 - 1990) thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ Vi và Đại hội Đảng các cấp, 2 năm thực hiện nghị quyết 10 của Bộ Chinh trị , Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đã đạt được những kết quả bước đầu tương đối toàn diện về các mặt. Trong sản xuất nông nghiệp đạt cả 3 chỉ tiêu về diện tích, năng suất và sản lượng (100% diện tích được canh tác, năng suất năm cao nhất đạt 7 tấn/ha, tổng sản lượng bình quân đạt 2.850 tấn/năm, bình quân lương thực đầu người đạt 439kg/năm. Cây mầu, cây công nghiệp được xã viên quan tâm phát triển. Về chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà và nuôi cá được nhân dân chú trọng và có hiệu quả cao. Trong xã mỗi năm sản xuất 50 vạn viên gạch, 800 tấn vôi, chiếu xe 34.716 m2, thảm đay 4.000 m2, làn cói 2.000 cái. Hai đội bốc dì hàng ở bến Trà Lý thường xuyên thực hiện tốt mọi công việc. Hợp tác xã mua bán hàng năm có doanh thu bình quân 1.900.000 đồng đến 2 triệu đồng, đều đạt và vượt chỉ tiêu trên giao. Hợp tác xã tín dụng làm tốt công tác cho nhân dân vay vốn, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển. Các mặt kênh doanh dịch vô tiếp tục duy trì và mở rộng, những hộ có điều kiện kênh doanh được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển. - Về công tác văn hóa - xã hội: trong 5 năm, diện mạo của xã nhà có nhiều đổi thay, toàn xã có từ 75 - 80% nhà xây, trong đã khoảng 50% nhà xây kiên cố mái bê tông, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ toàn xã đã có từ 2 đến 3 % số hộ có tơi vi, xe máy. Đảng bộ, chính quyền và toàn thể nhân dân trong xã có ý thức và trách nhiệm cao trong sự nghiệp giáo dục, tỷ lệ các cháu từ 12 tháng đến 60 tháng tuổi được đến nhà trẻ đạt từ 45 - 50%; trường Phổ thông cơ sở (cấp I, II) đạt 95% các cháu từ 6 đến 15 tuổi tới trường, cơ sở vật chất của trường luôn được củng cố, tu bổ và xây dựng thêm đảm bảo tốt cho việc dạy và học, hàng năm trường đạt trường tiên tiến cấp huyện và tỉnh. Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình được chỉ đạo chặt chẽ, công tác Tuyên truyền vận động kết hợp với biện pháp hành chính được thực hiện, tỷ lệ sinh giảm xuống còn 1,3%. Trạm Y tế thường xuyên làm tốt công tác chăm súc sức kháe cho nhân dân. Hệ thống truyền thanh luôn được củng cố, thực hiện tốt việc viết tên bài và thời lượng phát sóng, trên 11 điểm loa thường xuyên thông tin phục vụ nhân dân. Phong trào văn hóa, văn nghệ trên địa bàn xã diễn ra sôi nổi. Xã có đội văn nghệ với 30 người, chủ yếu là cán bộ và nhân dân thôn Lương Phú tham gia. Sự hoạt động của đội văn nghệ ngoài phục vụ nhân dân trong xã còn tham gia hội diễn văn nghệ cấp huyện và tỉnh đạt thành tích cao. Phong trào đền ơn đáp nghĩa (uống nước nhớ nguồn) luôn được nhân dân hưởng ứng. Toàn xã đã quyên góp và mua 32 sổ tình nghĩa (mỗi sổ 200.000 đồng) giúp gia đình Liệt sỹ. Các chế độ chính sách đối với người có công được thực hiện nghiêm túc. Tinh thần tương thân, tương ái, tình làng, nghĩa xóm được thể hiện bằng những việc làm có thể, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn(1). Các tổ chức đoàn thể hoạt động tương đối đồng đều, hội viên, đoàn viên là những hạt nhân nũng cốt trong nhân dân, thực hiện có hiệu quả các phong trào cách mạng. Hội Phụ nữ có phong trào giúp nhau làm kinh tế gia đình; Hội Nông dân với phong trào sản xuất kinh doanh giái; Đoàn Thanh Niên xây dựng tổ chức Đoàn mạnh, tuổi trẻ với kế hoạch hóa gia đình và phong trào không có học sinh bá học, vận động trẻ em đến trường đúng độ tuổi, không để trẻ em suy dinh dưỡng... Thực hiện Nghị quyết 06 ngày 26/3/1990 của Thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình, Nghị quyết số 01 của Huyện uỷ Tiền Hải ngày 3/4/1990 về việc thành lập Hội Cựu chiến binh các cấp, ngày 17/4/1990 xã Tây Lương thành lập Ban Chấp hành lâm thời Hội Cựu chiến binh. Ngày 30/5/1990 Đại hội đại biểu Hội Cựu chiến binh xã được tổ chức. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành gồm 5 đồng chí, đồng chí Tô Quý Cảo được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Phạm Ngọc Thấn làm Phó Chủ tịch Hội. Sau Đại hội, Ban Chấp hành Hội Cựu chiến bênh tập trung chỉ đạo việc xây dựng tổ chức, phát triển hội viên, tổ chức hoạt động tình nghĩa, giúp nhau phát triển kinh tế gia đình. Hầu hết cán bộ, hội viên đều là sỹ quan, chiến sỹ trong quân đội, họ đã trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp và phần lớn đã tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng giao, nay trở về địa phương tiếp tục phát huy bản chất truyền thống “bộ đội cô Hồ”, tiếp tục tham gia làm kinh tế, làm công tác Đảng, xây dựng chính quyền và các phong trào góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp. Về công tác xây dựng Đảng giai đoạn 1986 đến 1990: được Đại hội đại biểu Đảng bộ xã lần thứ XXV, XXVI, XXVII đề ra là: xây dựng Đảng bộ vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư tưởng chính trị vững vàng, có tư duy mới, nhất là tư duy kinh tế, đổi mới phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc. Trong bối cảnh tình hình kinh tế xã hội năm 1986, 1987 có khó khăn, tình hình chính trị trên thế giới diến biến phức tạp. Năm 1988, 1989 nhiều nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu và Liên Xô bị sụp đổ làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân bị dao động, lo lắng, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Được sự lãnh đạo của Huyện uỷ, Ban Chấp hành Đảng bộ, các Ban Chi uỷ, Chi bộ chủ động nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tổ chức cho đảng viên học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, đồng thời Tuyên truyền trong nhân dân nghị quyết hội nghị lần thứ 7, lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VI về công tác tư tưởng và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đã cán bộ, đảng viên, nhân dân đã xác định đúng lập trường quan điểm, kiên định vững vàng trong mọi tình huống, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng bộ và nhân dân. Từ đã quyết tâm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, quyết không chấp nhận đa nguyên, đa đảng, gắn công tác giáo dục chính trị cho cán bộ, đảng viên mới nắm bắt tư tưởng thường xuyên. Đảng bộ đã tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng Đảng theo tinh thần Chỉ thị 59-CT/TW. Đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, trong lề lối làm việc và trong tác phong sinh hoạt. Kịp thời biểu dương và động viên những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong các mặt công tác, lao động sản xuất cũng như đạo đức lối sống. Trong 2 năm (1986 - 1987) thực hiện Chỉ thị 80 của Bộ Chính trị về tập trung củng cố nâng cao chất lượng lãnh đạo của tổ chức Đảng cơ sở; Chỉ thị số 11 của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Từ 1986 đến 1991, Đảng bộ xã Tây Lương đã tổ chức 3 kì Đại hội. Trong các kì Đại hội đã tập trung làm rõ những mặt tích cực, những nguyên nhân yếu kộm, đề ra phương hướng, mục tiêu sát với tình hình thực tế ở địa phương. Các lần Đại hội đã dân chủ bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ có chất lượng, đảm nhiệm tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Trong Đảng bộ, từ cán bộ đến đảng viên luôn tôn trọng và đề cao tính kỷ luật, chế độ sinh hoạt Đảng được duy trì thường xuyên, nề nếp. Số lượng đảng viên tham gia học tập luôn đạt ở mức (92%). Nội dung học tập, sinh hoạt, được cấp uỷ tổ chức và chuẩn bị tốt, nên các buổi sinh hoạt, học tập đạt chất lượng cao. Công tác kiểm tra Đảng được coi trọng, thực hiện có kế hoạch, giữ gìn kỷ luật, tạo sự đoàn kết trong nội bộ Đảng. Công tác cán bộ luôn luôn được quan tâm, xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ. Cấp uỷ đã cử nhiều cán bộ đi học văn húa, chuyên môn nâng cao trìng độ lý luận cho đội ngũ cán bộ kế cận. Đã sắp xếp, sử dụng cán bộ phù hợp với năng lực của Từng người. Sang năm 1990 Đảng bộ có 15 Chi bộ (đảng viên của 6 Chi bộ đội chuyên chuyển về sinh hoạt trong các Chi bộ đội sản xuất), Đảng bộ có 257 đồng chí (tăng 9% so với năm 1986), 100% đảng viên trong Đảng bộ được học tập, rèn luyện thường xuyên, có nhận thức và trình độ lý luận tốt, phát huy được vai trò tiên phong gương mẫu, ý thức kỷ luật nghiêm, đoàn kết nội bộ cao, gắn bó mật thiết và có uy tín với nhân dân. Theo tinh thần Nghị quyết số 04-NQ/TW của Bộ Chính trị, năm 1988 Đảng bộ Tây Lương được Huyện uỷ công nhận là Đảng bộ vững mạnh (có 13 Chi bộ đạt loại khá, 2 Chi bộ đạt trung bình, không có Chi bộ yếu kém), về đảng viên có 198 đồng chí đạt loại A, 59 đồng chí đạt loại B (loại A phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu về mọi mặt, loại B nhìn chung phát huy tốt có một số mặt phát huy chưa thật tốt). Công tác quốc phòng, an Ninh, trật tự an toàn xã hội được Đảng bộ và chính quyền xã luôn quan tâm, chú trọng. Bình quân hàng năm có từ 15 đến 17 thanh Niên lên đường nhập ngũ, tham gia quân đội, đảm bảo chỉ tiêu trên giao. Lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên luôn được huấn luyện, học tập theo kế hoạch đã định, mỗi năm 2 đợt tích cực tham gia hội thao quân sự do huyện tổ chức, đơn vị xã Tây Lương luôn đảm bảo đủ quân số, kết quả các đợt hội thao đạt loại khá trở lên, ngoài ra lực lượng dân quân tự vệ còn sẵn sàng làm nhiệm vô (khi có lệnh của trên), bảo vệ trật tự an Ninh và phòng chống thiên tai. Phong trào quần chúng bảo vệ an Ninh làng xóm được đẩy mạnh, công tác Tuyên truyền và giáo dục nhiệm vụ bảo vệ an Ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội được làm thường xuyên. Những vô việc mất trật tự, an Ninh thôn xóm kịp thời được ngăn chặn và sử lý nghiêm theo pháp luật, tạo sự bình yên cho làng xóm. Trong hoàn cảnh kinh tế giai đoạn 1986 - 1990, đời sống nhân dân trong xã còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng bộ và nhân dân Tây Lương quyết tâm vượt lên để thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ đề ra, xây dựng tốt các cơ sở hạ tầng làm cho bộ mặt nông thôn xã nhà ngày thêm khang trang phục vô sản xuất, phục vụ nhu cầu đời sống của nhân dân. Như nhà trẻ thôn Nghĩa, thôn Trung Tiến, xây dựng trạm Điện, trạm bơm thôn Lương Phú, xây nhà kho thôn Trung Tiến, xây cầu, cống phục vụ tưới tiêu; đào, đắp, nạo vột hàng ngàn một mương máng. Trong 2 năm 1989, 1990 Tây Lương xây dựng các tuyến đường giao thông liên thôn ở thôn Thượng, thôn Hiên, thôn Nghĩa và thôn Trung Tiến bằng vật Liệu gạch và xi măng. Tu bổ và sửa chữa các công trình thuỷ lợi với số Tiền đầu tư trên 200 triệu đồng. Để thực hiện tôt việc chăm súc sức khoẻ của nhân dân, Công trình Trạm xá xã đã được nâng cấp sửa chữa và đưa vào sử dụng từ tháng 4/1984, công trình có 7 gian nhà kiên cố, mái gác pa len với tổng diện tích 163 m2. Hàng năm Uỷ ban nhân dân và Hợp tác xã nông nghiệp hỗ trợ hàng triệu đồng để trạm xá mua sắm trang thiết bị phục vụ khám và chữa bệnh cho nhân dân. Đài Truyền thanh xã có nhiệm vụ thông tin về các chủ trương Nghị quyết của cấp uỷ Đảng, chính quyền và ban quản lý HTX dịch vụ nông nghiệp. Các trang thiết bị được tu bổ nâng cấp từ 10 điểm loa (1986) lên 20 điểm loa (1990). Do ông Hoàng Ngọc Kháng Phụ trách.
* *
Trong 5 năm, từ 1986 đến 1990, thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nghị quyết của các kì Đại hội Đảng bộ xã, giai đoạn đầu thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương bước đầu đã đạt những thành tích rất đáng trõn trọng. Tuy nhiên, cũng trong thời gian đầu thực hiện công cuộc đổi mới, phong trào ở Tây Lương còn bộc lộ những tồn tại cần phải được khắc phục trong những giai đoạn tiếp theo, đã là: mặt dự Đảng bộ, chính quyền, Ban Quản lý Hợp tác xã nông nghiệp đã có nhiều cố gắng tập trung chỉ đạo song trong sản xuất nông nghiệp năng suất lúa vẫn luôn đạt mức thấp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Năm 1988, 1990 thực hiện khoán 10 (khoán gọn) nền kinh tế xã nhà vẫn phát triển chậm, kinh tế VAC vẫn chưa được chú trọng phát huy; về chăn nuôi vẫn theo tập quán cũ, vai trò quản lý kênh tế, điều hành trong sản xuất của Ban Quản lý Hợp tác xã chưa năng động, một bộ phận xã viên sản xuất vẫn giữ lối cũ (lạc hậu); tốc độ phát triển tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vô và làm nghề còn diễn ra rất chậm chạp, chưa tương xứng với khả năng của một xã vốn có truyền thống.
II- ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN TÂY LƯƠNG TIẾP TỤC CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, TẬP TRUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, XÂY DỰNG NÔNG THÔN (giai đoạn 1991 – 1995) Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XIV được tiến hành từ ngày 27/8 đến 31/8/1991, Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn 1991 – 1995 là: giữ vững ổn định chính trị, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tập trung phát triển kênh tế hàng húa, trọng tâm là sản xuất nông nghiệp bảo đảm ổn định nhu cầu vệ lương thực của nhân dân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong tỉnh. Tháng 9/1991, Đại hội Đảng bộ huyện Tiền Hải lần thứ XXII đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế 5 năm 1991 – 1995 là “phát huy thế mạnh của huyện ven biển, đẩy mạnh phát triển kênh tế toàn diện theo cơ cấu nông – ngư – công nghiệp, tập trung chuyển mạnh sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, trong đã sản xuất lương thực, thực phẩm và phát triển kinh tế biển là mũi nhọn; coi trọng công nghiệp khí đốt để tăng trưởng nhanh hàng tiêu dùng, xuất khẩu, tạo việc làm cho người lao động. Hạ thấp tỷ lệ sinh, chuyển mạnh dân đi xây dựng vùng kênh tế mới, giải phúng sức sản xuất xã hội, nâng cao trình độ dân trí, tạo thế đồng đều về mọi mặt giữa các vùng trong huyện, ổn định và Từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; thực hiện dân chủ và công bằng xã hội gắn với xây dựng nông thôn mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với an Ninh trong tình hình mới; xây dựng huyện giàu về kinh tế, vững về chính trị tư tưởng, mạnh về an Ninh quốc phòng, có nếp sống văn hóa lành mạnh, xây dựng Đảng bộ huyện vững mạnh”(1). Để thực hiện có hiệu quả nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XiV và nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ lần thứ XXII. Được sự chỉ đạo của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện, tháng 9/1991 Đại hội Đảng bộ xã Tây Lương lần thứ XXVIII (nhiệm kì 1991 – 1993) và Đại hội Đảng bộ lần thứ XXIX (nhiệm kì 1994 – 1995) đồng chí Hoàng Minh Đa tiếp tục được bầu làm bí thư Đảng uỷ. Quán triệt sâu sắc nghị quyết Đại hội Đảng cấp trên, Đại hội đã xác định phương hướng nhiệm vụ chủ yếu giai đoạn từ 1991 – 1996 là khắc phục những tồn tại của những năm qua, bố trí đúng cơ cấu sản xuất, đầu tư gắn với việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới cơ chế quản lý, củng cố quan hệ sản xuất, giữ vững tình hình chính trị, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nông thôn mới. Nhiệm vụ chủ yếu và trọng tâm là “đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, cải tạo vườn trồng cây công nghiệp, khuyến khích hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm và thả cá nước ngọt, nâng cao trình độ thâm canh, xen canh để đạt năng suất cao. Mở rộng và phát triển ngành nghề, tiểu thủ công nghiệp, giải quyết cho người lao động có việc làm và nâng cao thu nhập, đồng thời hoàn thành tốt nghĩa vô với Nhà nước. Tiếp tục xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, Từng bước thay đổi cây trồng, vật nuôi, ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp. Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt phong trào toàn dân xây dựng nông thôn mới và cuộc vận động kế hoạch hoá gia đình; đẩy mạnh công tác văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và thông tên truyền thành. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, hiệu lực quản lý Nhà nước của chính quyền xã; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, củng cố và xây dựng các đoàn thể quần chúng và tổ chức hoạt động đồng đều có chất lượng; thực hiện tốt nhiệm vô quốc phòng, đảm bảo an Ninh chính trị, giữ vững trật tự an toàn xã hội”. Từ sau tháng 9/1991 đến cuối năm 1993 Đảng bộ và nhân dân trong xã đã vượt qua khó khăn, nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXVIII và đã đạt được những kết quả: Về sản xuất nông nghiệp: tổng diện tích 418,3 ha (tăng 4% so với mốc năm 1990), năng suất bình quân đạt 10,5 tấn/ha (vượt 2,2 tấn/ha so với kế hoạch), riêng năm 1993 năng suất lúa đạt 10,7 tấn/ha. Tổng sản lượng lương thực đạt 4.389 tấn/năm, bình quân lương thực đầu người đạt 627 kg/năm. Cây mầu được các xóm trồng luân canh, Ngô, Khoai lang, Lạc xuân, Rau các loại với diện tích 20 ha, đạt sản lượng (quy thúc) bằng 84 tấn. Về chăn nuôi cũng phát triển, trong 3 năm tổng đàn lợn tăng nhanh, toàn xã thường xuyên có 1.500 hộ chăn nuôi lợn, chiếm 95%, bằng 3.750 con. Đàn lợn nái cũng được nhiều hộ nuôi, hàng năm đạt từ 1,5 đến 2 tấn lợn xuất chuồng. Đàn trâu, bò toàn xã có từ 220 đến 250 con, đảm bảo việc làm đất kịp thời vô và hàng năm còn cho sinh thêm nhiều trâu, bò con. Về chăn thả cá và kênh tế vườn cũng bắt đầu được chú ý phát triển. Các hộ có ao, vườn chiếm tỷ lệ 45% đã đầu tư Tiền, công để cải tạo nuôi cá thịt cũng như cá giống, trồng những cây có giá trị kinh tế cao cho thu nhập khá. Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vô, làm nghề có bước phát triển mới. Do có nguồn lao động dồi dào, với nhiều nghề truyền thống như mộc, nề, vận tải, cơ khí, xay sát, đánh bắt cá trên sông cũng được phát huy, tranh thủ những lúc nông nhàn để tăng thêm thu nhập(1). Từ năm 1990 đến 1993 tổng thu nhập toàn xã bình quân thu 10 tỷ đồng mỗi năm, trong đã thu từ sản xuất nông nghiệp chiếm 50%, thu từ chăn nuôi và VAC chiếm 25%, thu từ thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vô, làm nghề 25%, bình quân mỗi khẩu thu 1,4 triệu đồng/năm. Bước sang năm 1994 và 1995 thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá Viê), Đề án số 04 của Huyện uỷ Tiền Hải và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXIX, Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã, Ban Quản lý Hợp tác xã dịch vô nông nghiệp đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc giao ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân, tạo điều kiện cho kênh tế hộ phát triển. Hợp tác xã nông nghiệp chủ động đổi mới cơ cấu giống theo Mùa vô, áp dụng các biện pháp kỹ thuật, chủ động tưới tiêu, chăm sãc bảo vệ lúa, phòng trõ kịp thời sâu bệnh nên 2 năm (1994 - 1995) nhân dân Tây Lương đã được Mùa. Tổng diện tích gieo cấy toàn xã 398,6 ha, năng suất năm 1994 đạt 108,3 tạ/ha, năm 1995 đạt 118,1 tạ/ha, so với năm 1993 tăng 10,8 tạ, vượt so với môc tiêu Đại hội đề ra là 8 tạ/ha. Sản lượng năm 1994 đạt 4.308 tấn, năm 1995 đạt 4.707 tấn, tăng 322 tấn so với kế hoạch đề ra. Cùng với cây lúa, cây mầu lương thực cũng được chú trọng luân canh theo Mùa vô với diện tích 36 ha. Vụ đông 1995 đưa cây Ngô vào trồng trên diện tích 2 lúa là 24 mẫu (8,8 ha), sản lượng quy thúc (1994) bằng 210 tấn, năm 1995 bằng 256 tấn. Lương thực bình quân đầu người năm 1994 đạt 680 kg, năm 1995 đạt 709 kg. Về kinh tế VAC toàn xã có 40% số vườn và 50 % số ao được cải tạo, loại bá cây tạp, con tạp, đưa cây và con có giá trị kênh tế cao vào sản xuất. Về chăn nuôi năm 1994 có 1700 hộ nuôi với tổng đàn lợn 2200 con (trong đã lợn nái 400 con), trọng lượng lợn thịt xuất chuồng 81 kg, sản lượng thịt đạt 176 tấn, tăng 1,3 lần so với năm 1993. Năm 1995 tổng đàn lợn có 3.400 con (lợn nái có 420 con), sản lượng thịt đạt 255 tấn. Đàn trâu, bò năm 1994 có 220 con, năm 1995 có 235 con (tăng 15 con), trong đã có 94 con trâu, bò sinh sản. Đàn gia cầm cũng tăng nhanh: đàn vịt (1994) có 5000 con, năm 1995 là 10.000 con, đàn gà có 5.100 con (1994) đến năm 1995 là 7.750 con, trong số đã Hợp tác xã đã mạnh dạn đưa 1.000 con gà công nghiệp siêu trứng vào nuôi bước đầu cho thu hoạch tốt. Tổng giá trị thu nhập từ chăn nuôi năm 1994 đạt 4 tỷ 787 triệu đồng; năm 1995 đạt 7 tỷ 012 triệu đồng. Về tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề, kinh doanh dịch vô cũng được phát triển. Một số hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư mua sắm phương tờện, máy múc như ô tô tải, xe công nông, thuyền vận tải, máy xẻ gỗ, máy xay xát để mở rộng sản xuất. Các nghề như nề, mộc, vận chuyển bốc dì, cũng được mở rộng và phát triển, hàng ngày có từ trên 500 người đi làm nghề và cho thu nhập khoảng 15 triệu đồng mỗi ngày. Trong 2 năm (1994 - 1995) dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nền kênh tế xã nhà phát triển khá toàn diện, bước đầu có sự chuyển biến về chuyển đổi cơ cấu kênh tế đúng hướng, tổng thu nhập toàn xã bình quân mỗi năm đạt 35 tỷ 827 triệu đồng, bình quân đầu người đạt 2 triệu 538 ngàn đồng/năm. Do sự lãnh đạo và chỉ đạo đúng hướng nên nền kinh tế xã nhà không ngừng phát triển, năm 1995 nền kênh tế xã tăng so với năm 1994 là 20%, do đó ngân sách xã năm 1994 đạt 598 triệu 765 ngàn đồng, năm 1995 là 906 triệu 246 ngàn đồng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu hoạt động thường xuyên, ngoài ra còn trích một phần đầu tư cho kiến thiết xây dựng nông thôn mới. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã, để tạo điều kiện phát triển kinh tế toàn diện, thực hiện quyết định số 390 ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Qũy tín dụng nhân dân, ngày 3/3/1994 Quỹ tín dụng nhân dân xã Tây Lương được thành lập và đã đi vào hoạt động(1). Quỹ tín dụng xã lúc đầu có 11 thành viên trong tổ chức quỹ và 170 thành viên xin gia nhập. Đồng chí Đào Thanh Văn (Đảng uỷ viên) làm giám đốc quỹ, đồng chí Nguyễn Tường Phượng được mời làm chủ tịch danh dự Đến tháng 11/1995 đã có 448 thành viên tham gia. Sau một thời gian thành lập, Quy đã huy động được một lượng Tiền gửi của dân rất lớn và tổ chức cho các đối tượng vay sử dụng đúng mục đích. Trong 5 năm (1991 - 1995) Đảng bộ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hoàn thiện Từng bước cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp (theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khoá VII), nhân dân Tây Lương phấn khởi, yên tâm đầu tư phát triển sản xuất góp phần thực hiện thắng lợi môc tiêu kênh tế xã hội mà Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ đã đề ra. Song trong quá trình chỉ đạo thực hiện còn có những hạn chế. Về sản xuất nông nghiệp việc tiếp thu cây, con, giống mới và quy trình công nghệ còn dố dặt, hệ số sử dụng và quay vòng đất chưa cao, cây mầu vô đông, chưa thật phát triển, kinh tế VAC hiệu quả còn thấp. Về chăn nuôi vẫn là chăn nuôi nhỏ lẻ là chủ yếu, theo tập quán cũ. Việc đầu tư phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vô tuy đã có nhiều cố gắng song tốc độ tăng trưởng rất chậm. Vai trũ quản lý điều hành của chính quyền và Ban Quản lý Hợp tác xã chưa linh hoạt. Thực hiện chủ trương và sự chỉ đạo của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện, trong toàn huyện từ 1992 đến 1996 thực hiện chương trình đồng, đường, Điện, đài, trường, trạm gọi tắt là chương trình 4Đ 2T với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã và các ban, ngành của xã đã phát huy sức mạnh về vật chất cũng như tinh thần của nhân dân, tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên, xã Tây Lương đã từng bước thực hiện chương trình đồng, đường, Điện, đài, trường, trạm. Về chương trình đồng: xây dựng các công trình thuỷ lợi, sửa chữa, nâng cấp các cống, đào, nạo vét mương máng phục vụ cho việc tưới tiêu đảm bảo sản xuất(1). Về Điện: được đầu tư xây dựng 5 trạm biến áp tu sửa lưới Điện hạ thế 5 thôn, từ tháng 12/1993 công trình Điện đã đưa vào sử dụng. Điện toả sáng ở các thôn xóm và trong các hộ gia đình, tạo sự phấn khởi trong nhân dân. Đến tháng 1/1995 có 92% số hộ dựng Điện, cuối năm 2005 có 100% số gia đình trong xã sử dụng Điện phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất. Về đường: Năm 1994 xây dựng đường đá láng nhựa từ thôn Thượng đến thôn Hiên, từ đường 39 vào xóm 7 thôn Nghĩa, từ đường 39 vào xóm 5, xóm 8 Lương Phú với chiều dài là 2.000 mét; xây dựng đường đá từ xóm 5 đến xóm 12 dài 2.016 một(1) cùng với các công trình đường đá láng nhựa và đường đá, cũng trong thời gian này, có 60 % trục đường liên xóm được cứng hoá bằng gạch, vật liệu cũng giúp cho nhân dân đi lại thuận tiện. Đồng thời Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đã tập trung xây dựng và tu sửa các công trình phúc lợi tập thể, trong đã có trường học, Trạm xá và Đài Truyền thanh. Từ năm 1991 đến 1995 Đảng bộ và nhân dân Tây Lương tập trung phát triển kinh tế, từ sản xuất nông nghiệp đến thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vô cho đến kinh tế hộ gia đình luôn được chú trọng. Bước đầu đời sống của nhân dân được cải thiện và không ngâng nâng cao. Số hộ có mức sống khá chiếm tỷ lệ cao (trên 50%), số hộ nghèo ngày càng giảm. Đi đôi với công tác lãnh đạo phát triển kinh tế, Đảng bộ đã lãnh đạo công tác văn hóa xã hội. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII), sự nghiệp giáo dục đào tạo được Đảng bộ chú trọng, cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu học tập của con em trong xã. Tuy cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học còn ở mức độ, song công tác dạy và học của các trường ở Tây Lương đã đạt được kết quả khả quan. Năm học 1991 - 1995 trường phổ thông cơ sở Tây Lương đạt tỷ lệ lên lớp cao, đạt ( 96-98 %); tỷ lệ học sinh khá giái đạt 35%. Ngành học mẫu giáo, nhà trẻ hàng năm đã huy động được trên 70% số cháu trong độ tuổi đến lớp. Đội ngũ giáo viên các cấp học hàng năm được bổ sung, đời sống tương đối ổn định. Năm học 1994 - 1995 trường phổ thông cơ sở thực hiện việc tách làm 2 cấp trường: trường THCS (cấp II cũ) có 594 em và trường Tiểu học (cấp I cũ) có 835 em. Trong 2 năm (1994 - 1995) xã hỗ trợ 100 triệu đồng tập trung xây dựng, sửa chữa trường sở cả 3 ngành học, cơ sở vật chất trường, lớp không ngâng được tu bổ phục vô cho dạy và học, chất lượng dạy và học được nâng lên. Trường Tiểu học và ngành học mẫu giáo, nhà trẻ được công nhận là đơn vị tiên tiến, trường THCS giữ vững danh hiệu trường tiên tiến cấp tỉnh. Công tác y tế: được sự chỉ đạo sâu sát của ngành, cộng với sự tích cực của địa phương, công tác chăm sóc sức kháe nhân dân trong những năm từ 1991 - 1995 có bước phát triển khá. Trạm xã xã thường xuyên thông qua mạng lưới y tế cơ sở thôn, xóm Tuyên truyền vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh môi trường, chủ động phòng chống dịch bệnh; kết hợp với quân y trung đoàn 568 duy trì tốt chương trình 12/2 (quân dân y kết hợp) được Quân khu III và Bộ chỉ huy quân sự Thái Bình tặng bằng khen. Trạm xá xã có 7 phòng, trong đã phòng kỹ thuật đã đảm bảo tiêu chuẩn của ngành y tế quy định. Công tác dân số và cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch đã có nhiều chuyển biến tích cực. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền cùng các ban, ngành, đoàn thể đi đôi với những biện pháp tích cực, hình thức vận động, Tuyên truyền thích hợp, gắn Tuyên truyền giáo dục với biện pháp hành chính kinh tế, coi trọng vấn đề nâng cao nhận thức và phòng tránh thai, có cơ chế khuyến khích tháa đáng nên công tác dân số kế hoạch hóa gia đình ở Tây Lương giai đoạn 1991 - 1995 đạt khá, nhiều cặp vợ chống trong độ tuổi sinh đẻ đã có nhận thức tốt chọn mô hình gia đình chỉ có từ 1 đến 2 con, nuôi con khỏe, dạy con ngoan, vì thế tỷ lệ sinh hàng năm đã giảm(1). Phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và thông tên truyền thanh được duy trì và phát triển. Cùng với đội văn nghệ ở các trường, thôn Lương Phú luôn duy trì đội văn nghệ truyền thống, thường xuyên luyện tập, phục vụ nhân dân địa phương và tham gia hội diễn ở cấp huyện, hàng năm đạt thành tích khá. Các thôn có các đội nhạc tang, 4 trong 5 thôn có đội trống ngũ lôi phục vụ tốt cho việc tang hiếu. Ngoài ra 5 thôn đều thành lập đội tế nam quan và nữ quan phục vụ trong những kì lễ hội truyền thống của xã nhà. Ngày 12/4/1994 (ngày 02 tháng 3 năm Giáp Tuất), Đảng bộ và nhân dân xã Tây Lương tổ chức lễ hội đón bằng di tích lịch sử văn hóa (đền thờ đại càn thánh mẫu được UBND tỉnh công nhận là di tích lịch sử văn hóa). Từ đã đến nay cứ vào ngày 01 tháng 3 (âm lịch) hàng năm xã mở lễ hội, trong đã các hình thức hoạt động tâm lênh, giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao rất phong phú. Qua đã tình đoàn kết được nâng cao, tình làng nghĩa xóm được gắn kết, việc cưới, việc tang, cỗ bàn đã được hạn chế, các hủ tục lạc hậu dần được bài trừ. Công tác thông tin truyền thanh được duy trì và hoạt động thường xuyên. Năm 1991 đã đầu tư sắm 2 máy phát mới; từ 12 điểm loa lên 20 điểm loa, được bố trí hợp lý trong các địa bàn thôn, xóm, thông báo kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vô kênh tế xã hội của địa phương đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đài Truyền thanh xã là nhịp cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, góp phần quan trọng trong việc thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Thấm nhuần đạo lý uống nước nhớ nguồn, công tác thương binh Liệt sỹ, gia đình và người có công được Đảng bộ và nhân dân quan tâm chăm lo đúng mức. Hàng năm các tổ chức chính trị, đoàn thể của xã đã tổ chức thăm hái và tặng quà cho các đối tượng chính sách. Các chế độ chính sách được thực hiện kịp thời, nghiêm túc, tạo điều kiện thuận lợi để các đối tượng yên tâm phấn khởi. Từ 1992 đến 1995 Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã vận động nhân dân và các tổ chức xã hội quyên góp mua sổ tình nghĩa tặng 23 đối tượng chính sách gặp khó khăn(1); Việc báo công, lập sổ vàng truyền thống và tổ chức khai báo những người có công trong các cuộc kháng chiến cứu nước đã được thực hiện nghiêm túc, đúng hướng dẫn. Cùng với nhiệm vô lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kênh tế, văn hóa xã hội, Đảng bộ, chính quyền xã luôn quan tâm làm tốt công tác quốc phòng an Ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Để thực hiện nghị quyết của Đảng các cấp về nhiệm vụ quốc phòng an Ninh với kinh tế, cấp uỷ, chính quyền thường xuyên duy trì nề nếp xây dựng củng cố lực lượng sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ lực lượng dự bị cơ động (B 14,5 ly phòng không), lực lượng dân quân tự vệ, đảm bảo đủ biên chế theo quy định. Hàng năm tổ chức huấn luyện và học tập quân sự, tham gia hội thao do Ban Chỉ huy Quân sự huyện tổ chức đạt kết quả khá trở lên. Việc tổ chức đăng ký nghĩa vô quân sự, gọi thanh Niên nhập ngũ hàng năm đều được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm 100% chỉ tiêu trên giao. Năm 1991 - 1995 có từ 15-20 thanh Niên lên đường làm nghĩa vô quân sự bảo vệ Tổ quốc (vượt chỉ tiêu trên giao). Truyền thống tốt đẹp đã được Đảng bộ, chính quyền, nhân dân giữ gìn và phát huy. Phong trào quần chúng bảo vệ an Ninh Tổ quốc luôn được đẩy mạnh và đạt kết quả cao. Về tình hình chính trị luôn được duy trì ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Bộ phận an Ninh xã thường xuyên kết hợp chặt chẽ với các thôn, xóm thực hiện nghiêm túc chế độ tuần tra canh gác, tổ chức nhiều đợt tấn công truy quét tội phạm theo Chỉ thị 135 của Hội đồng Bộ trưởng; kịp thời xử lý nghiêm minh đối với những đối tượng vi phạm(1). Các an Ninh viên hàng năm được bồi dưỡng nghiệp vô, tổ hoà giải ở các xóm, khu dân cư nũng cốt là các hội viên Cựu chiến bênh, Hội Phụ nữ, Nông dân, Đoàn Thanh Niên được duy trì hoạt động thường xuyên, góp phần giải quyết tốt các mâu thuẫn bất đồng trong nội bộ nhân dân. Thực hiện và triển khai Nghị định số 36/NĐCP của Chính phủ về thiết lập trật tự an toàn giao thông, bước đầu đạt kết quả tốt, tại nạn giao thông trên địa bàn xã được giảm dần. Công tác xây dựng Đảng, củng cố chính quyền và hoạt động của các đoàn thể nhân dân trong giai đoạn từ 1991 – 1995. Dưới sự chỉ đạo của Huyện uỷ, Đảng bộ Tây Lương đã tổ chức quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ Viê của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII. Trên cơ sở đã, Đảng bộ đã đề ra phương hướng nhiệm vô sát với tình hình thực tế xã nhà để lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vô chính trị của Đảng. Ban Chấp hành Đảng bộ các khóa đã chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, công tác tư tưởng, giáo dục chính trị, bồi dưỡng lý luận về Chủ nghĩa Mác- lênin và các đường lối chiến lược của Đảng, làm cho đảng viên trong toàn Đảng bộ luôn có nhận thức đúng đắn để vững vàng trong vai trũ lãnh đạo và là tấm gương cho quần chúng noi theo. Cấp uỷ Đảng đã thường xuyên bám sát những nhiệm vô trọng tâm, trọng điểm, có phương hướng đúng đắn, thực hiện dân chủ trong Đảng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, giải quyết những kiến nghị của nhân dân. Đảng bộ đã đặc biệt coi trọng hình thức thông tên Tuyên truyền trong Từng nhiệm kì Đại hội của Đảng bộ, Ban Tuyên giáo được Đảng bộ thành lập cùng với báo cáo viên đã nghiêm túc và hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Đảng bộ lãnh đạo kết hợp công tác tư tưởng, chính trị với công tác tổ chức, kiểm tra của Đảng. Luôn luôn đổi mới nội dung, phương pháp công tác tư tưởng và kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong giai đoạn từ 1991 đến 1995 công tác tư tưởng của Đảng bộ đã góp phần làm chuyển biến nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn xã, tạo nên sự thống nhất cao về tư tưởng, hành động, thực hiện thắng lợi nhiệm vô chính trị mà nghị quyết Đại hội Đảng các cấp đã đề ra. Đảng bộ chỉ đạo Từng bước kiện toàn, tổ chức lại đội ngũ cán bộ cho phự hợp với cơ chế quản lý mới. Từ trong Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân, Hợp tác xã nông nghiệp đến các đoàn thể nhân dân được bố trí gọn nhẹ, sử dụng cán bộ hợp lý và có năng lực. Chuyển đổi mô hình đội sản xuất sang đơn vị xóm toàn xã có 12 xóm. Đồng chí Bí thư Chi bộ kiêm xóm trưởng giai đoạn 1991 - 1992. Cán bộ xóm, phần nhiều là các đồng chí đảng viên đã hoàn thành nhiệm vụ trong quân đội nay trở về địa phương tham gia công tác. Họ có năng lực, có ý thức trách nhiệm trong công tác, được bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII) và Chỉ thị 59 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác kiểm tra của Đảng, về đổi mới, chỉnh đốn để nâng cao chất lượng tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên. Quá trình học tập và thực hiện Nghị quyết và Chỉ thị của Trung ương, Từng cán bộ, đảng viên và các Chi bộ đã Nêu cao tinh thần đấu tranh phi bình và tự phi bình trên tinh thần khách quan, dân chủ cởi mở. Qua đã càng tăng cường và củng cố thêm sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ. Năm 1991, 1992 Đảng bộ có 294 đảng viên sinh hoạt ở 16 Chi bộ (12 Chi bộ xóm, 4 Chi bộ chuyên), trong đã có 62 đồng chí do tuổi cao sức yếu được chuyển đổi hình thức sinh hoạt, còn lại 232 đồng chí trực tiếp sinh hoạt ở Đảng bộ. Trong số 232 đồng chí, có 50 đồng chí giữ các chức danh, còn 182 đông chí được Chi bộ phân công gánh vác nhiệm vô. Hầu hết các đảng viên của Đảng bộ đều chấp hành nghiêm túc Điều lệ Đảng, nguyên tác tổ chức sinh hoạt Đảng, đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đảng viên trong Đảng bộ luôn luôn có lập trường tư tưởng vững vàng, có đạo đức lối sống trong sáng lành mạnh(1). Công tác phát triển Đảng là việc làm thường xuyên của Đảng bộ. Đảng bộ, Chi bộ có chỉ tiêu phát triển đảng viên mới, giao nhiệm vô cho Từng đảng viên giúp đỡ, giáo dục quần chúng tạo nguồn để bồi dưỡng, kết nạp quần chúng vào Đảng. Năm 1992 - 1995 Đảng bộ kết nạp được 9 đồng chí đảng viên mới; Nâng tổng số đảng viên trong Đảng bộ lên 298 đồng chí. Nhìn chung những đồng chí đảng viên mới đều phát huy tốt vai trò tiên phong gương mẫu trong công tác, học tập và sản xuất. Công tác quy hoạch bồi dưỡng cán bộ luôn được Đảng bộ quan tâm, trong 5 năm (1991 - 1995) đã cử 8 cán bộ (trong quy hoạch) đi học tập, bồi dưỡng tại trường Đảng của tỉnh và 3 cán bộ đi học bồi dưỡng nghiệp vô quản lý nhà nước, tính đến năm 1995 có 8 đồng chí trong số 11 đồng chí đảng uỷ viên đã học xong chương trình trung cấp lý luận. Trong giai đoạn từ 1991 đến 1995 do có sự chỉ đạo sâu sát, thực hiện tốt đường lối của Đảng, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Tây Lương đã đạt được những kết quả đáng trân trọng. Sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng được nâng lên, số đảng viên phát huy tốt vai trũ lãnh đạo và tính Tiền phong gương mẫu ngày càng tăng, số đảng viên mắc sai phạm giảm dần. Đời sống kinh tế gia đình đảng viên ổn định và khá lên chiếm tỷ lệ cao, là tấm gương chung cho nhân dân trong xã noi theo. Trong những năm 1993, 1994, 1995 Đảng bộ Tây Lương đã được Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tiền Hải công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ vẫn còn những hạn chế. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng chưa làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc, đầy đủ những quan điểm cơ bản về đường lối kênh tế, chính trị và những khó khăn, thuận lợi trong công cuộc đổi mới của Đảng, cho nên trong Đảng bộ còn có những đảng viên có tư tưởng bảo thủ trong cách nghĩ, cách làm, thiếu năng động. Công tác quản lý cán bộ, đảng viên còn chủ quan, buông láng dẫn đến một số đảng viên còn vi phạm kỷ luật. Việc duy trì sinh hoạt Đảng ở một số Chi bộ không đều, đảng số tham gia sinh hoạt Đảng bộ tỷ lệ chưa cao, công tác đấu tranh phê bình và tự phê bình còn hạn chế. Công tác phát triển đảng viên mới còn yếu (năm 1992, 1995 số đảng viên mới được kết nạp chỉ tập trung ở 2 Chi bộ giáo dục và 2 Chi bộ xóm còn lại 10/12 Chi bộ xóm không kết nạp được đảng viên mới). Cùng với công tác xây dựng Đảng, công tác xây dựng củng cố chính quyền và các đoàn thể nhân dân được Đảng bộ thường xuyên quan tâm. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã thường xuyên nâng cao chất lượng hoạt động, tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp nhân dân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng. Hội đồng nhân dân xã các nhiệm kì luôn được đổi mới về nội dung phương thức hoạt động. Việc tiếp xúc cử tri được thực hiện nghiêm túc, dân chủ, cử tri phát huy cao quyền dân chủ của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương và chức năng kiểm tra giám sát theo luật định. Uỷ ban nhân dân xã được kiện toàn theo Quyết định số 109 của Hội đồng Bộ trưởng, đảm bảo đủ số lượng và chất lượng, cán bộ Uỷ ban nhân dân không những làm tốt chức năng quản lý Nhà nước mà đồng thời nâng cao hiệu lực điều hành. Trong những năm qua, Uỷ ban nhân dân xã đã kịp thời cô thể hoá các nghị quyết của Đảng và nghị quyết HĐND xã, tổ chức thực hiện đạt kết quả cao. Uỷ ban nhân dân thực hiện tốt việc thu chi ngân sách hàng năm có kết quả tốt, đầu tư kinh phí cho các công trình xây dựng cơ bản có trọng tâm, trọng điểm. Khuyến khích tập thể, cá nhân mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tổ chức thực hiện có hiệu qủa mục tiêu xúa đói giảm nghèo, giữ vững an Ninh chính trị an toàn xã hội. Do có nhiều thành tích đã đạt được, năm 1991, 1992 Uỷ ban nhân dân xã Tây Lương được Uỷ ban nhân dân huyện Tiền Hải công nhận là đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vô, từ năm 1993 đến 1995 được Uỷ ban nhân dân huyện tặng cờ đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng trong xã trên cơ sở nhiệm vô của cấp uỷ đã được phối kết hợp chặt chẽ và có nhiều hoạt động thiết thực, động viên các tầng lớp nhân dân trong xã thờ đua phát triển kênh tế, cải thờện đời sống nhân dân, góp phần giữ vững an Ninh, trật tự an toàn xã hội. Hội Bảo thọ đã thể hiện sự mẫu mực về mọi mặt, gương mẫu trong sinh hoạt, xây dựng quỹ bảo thọ với 90% Phụ lão tham gia. Tháng 12/1995 Ban Chấp hành Hội Người Cao tuổi lâm thời được thành lập ông Tạ Ngọc Phiêu làm chủ tịch Hội. Tháng 3/1996 Đại hội khoá i được tiến hành, bầu ông Hoàng Ngọc Ướng làm Chủ tịch Hội. Hội Nông dân thường xuyên mở các lớp tập huấn, hướng dẫn cho hội viên kỹ thuật gieo cấy, chăm bãn lúa, kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm; đi đầu trong phong trào VAC. Nhiều hộ trong Hội mạnh dạn cải tạo vườn tạp trồng cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, cải tạo ao hoang nuôi thả cá bước đầu cho thu nhập khá. Đoàn Thanh Niên hoạt động khá tích cực, tham gia Tuyên truyền, vận động phong trào kế hoạch hoá gia đình; đồng thời là lực lượng chính trong phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao. Đoàn Thanh Niên là lực lượng đi đầu trong việc chuyển giao khoa học kỹ thuật về cây giống và phòng trừ sâu bệnh. Hội Cựu chiến binh là lực lượng nòng cốt trong các phong trào cách mạng. Hội có nhiều hội viên gương mẫu trong lao động sản xuất, mạnh dạn phát triển kinh tế hộ gia đình. Hội làm tốt nhiệm vô bảo vệ Đảng, chính quyền và tham gia có hiệu quả vào công tác quốc phòng, an Ninh, trật tự an toàn xã hội, Hội có uy tín cao trong nhân dân. Hội Phụ nữ đi đầu và làm nũng cốt trong việc thực hiện tốt cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, nuôi con kháe, dạy con ngoan, xây dựng gia đình hạnh phúc, giúp đỡ nhau làm kinh tế, xãa đói giảm nghèo. Trong giai đoạn từ 1991 đến 1995, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chất lượng hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng đã được nâng lên, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vô chính trị của Đảng. Các đoàn thể quần chúng xã hàng năm đều được ngành dọc cấp trên xếp loại và đánh giá là những đơn vị khá. Tuy nhiên vẫn còn có những mặt tồn tại cần phải được khắc phục trong các giai đoạn tiếp theo, đã là nội dung hoạt động của các tổ chức quần chúng chưa phong phú, hoạt động chưa đều tay, các hội viên cũng chưa thực sự gắn bó với tổ chức của mình. Trong giai đoạn 5 năm (1991 - 1995) tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ Viê, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII, Đảng bộ và nhân dân xã Tây Lương đã đoàn kết, khắc phục khó khăn, phấn đấu giành thắng lợi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bộ mặt nông thôn xã nhà Từng bước được thay đổi, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi để Đảng bộ và nhân dân bước sang giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng từ 1996 - 2000.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong V-1,2,3)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH :: Linh Tinh Khác :: Kiến Thức Tổng Hợp-
Chuyển đến