CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH

NƠI GẶP GỠ CÁC BẠN CÙNG KHÓA, CÙNG TRƯỜNG, CÙNG QUÊ VÀ CÁC THẦY CÔ TRÊN KHẮP MỌI MIỀN
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
February 2018
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728    
CalendarCalendar
Social bookmarking
Social bookmarking digg  Social bookmarking delicious  Social bookmarking reddit  Social bookmarking stumbleupon  Social bookmarking slashdot  Social bookmarking yahoo  Social bookmarking google  Social bookmarking blogmarks  Social bookmarking live      

Bookmark and share the address of CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH on your social bookmarking website
Top posting users this month
Most active topics
NGUYỄN NGỌC BẢO VÀ CỰU HỌC SINH K76-79 GẶP NHAU Ở SÀI GÒN
Chùm thơ Phan Sĩ Phú
gặp mặt thường niên 2013 tại Sóc Sơn
Gặp mặt kỷ niệm 35 năm ra trường K76-79 (16-11-2014) tại Trường
ĐÁM CƯỚI CON TRAI CỦA HƯƠNG LỚP G TẠI TP.HCM
Lễ Vu Quy Con Gái Anh Khoa (lớp C) ở Hà Nội
HÌNH ẢNH KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY RA TRƯỜNG HỘI CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 TRƯỜNG PT CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Mời các bạn cựu HS cấp III Tây Tiền Hải khóa 76-79 gặp gỡ tại Vĩnh Phúc
Truyện ngắn 100 chữ
DANH SÁCH CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Latest topics
» Chúc mừng năm mới
Thu Mar 24, 2016 9:36 pm by buitiendung

» Chào xuân Bính Thân
Wed Feb 03, 2016 10:26 pm by buitiendung

» Chia buồn với gia đình bạn Phan Quốc Sự
Wed Jan 20, 2016 11:23 am by phanquocsu

» Thông báo mới
Wed Jan 20, 2016 11:22 am by phanquocsu

» Danh sach G
Wed Dec 30, 2015 4:30 pm by phanquocsu

» Thông báo khẩn
Fri Nov 20, 2015 10:49 pm by buitiendung

» Thông báo mời gặp mặt K76-79 trường TT Hải Năm 2015
Tue Oct 06, 2015 10:44 pm by buitiendung

» Thân gửi các bạn!
Sun Sep 27, 2015 8:41 pm by buitiendung

» Kỷ niệm 30 năm ra trường Hội HS K76-79 Cấp 3 Tây Tiền Hải
Fri Aug 21, 2015 11:35 pm by buitiendung

Keywords
Poll
Statistics
Diễn Đàn hiện có 62 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: Mrgift

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 772 in 271 subjects

Share | 
 

 Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong III-2,3)

Go down 
Tác giảThông điệp
buitiendung
Admin


Tổng số bài gửi : 158
Join date : 26/10/2012
Age : 55
Đến từ : Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong III-2,3)   Thu Jul 04, 2013 10:50 pm

II- ANH DŨNG CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI VÀ TÍCH CỰC CHI VIỆN CHO TIỀN TUYẾN, QUYẾT TÂM ĐÁNH THẮNG GIẶC MỸ XÂM LƯỢC 1- Thực hiện phòng không nhân dân và trực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ Tây Lương nằm ở cửa ngâ phía Đông bắc của Tiền Hải, Liền kề các trọng điểm quân sự, kênh tế, giao thông quan trọng của huyện. Tại đây, máy bay địch có thể bay thấp từ cửa sông Trà Lý tránh sự phát hiện, bất ngi do thám hoặc tập kích đánh phá các mục tiêu trong nội địa. Khi bay vào đánh phá và khi tháo chạy, không quân Mỹ thường dựng loại máy bay F105D có tên là “thần sấm” bay thấp vừa tránh hoả lực phòng không vừa gầm rũ uy hiếp tinh thần của nhân dân. Ngoài ra chúng còn thả thuỷ lôi trên sông Trà để ngăn cản luồng vận tải thuỷ của ta. Thâm độc hơn, giặc Mỹ còn có âm mưu đánh phá đi trong Mùa mưa lũ nhằm làm vì đi gây thiệt hại về người và tài sản, ngăn cản việc xây dựng hậu phương vững mạnh và chi viện cho Tiền tuyến. Trên địa bàn của xã có nhiều tô điểm dân cư đông đúc và các môc tiêu quan trọng như làng, xóm, trường học, nơi cất giấu xăng dầu, tầu, thuyền, kho thúc, bãi tập, doanh trại quân đội, xưởng sửa chữa canô, xà lan và bến đò Trà Lý… Đây là những môc tiêu địch có thể đánh phá. Vì thế việc tổ chức phòng không nhân dân và chiến đấu đánh trả máy bay Mỹ, phòng chống thám báo biệt kích đột nhập, bảo vệ giao thông thuỷ bộ, đi điều, cầu cống, cơ quan, kho tàng, xí nghiệp, doanh trại, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước là nhiệm vô quan trọng của Đảng bộ và nhân dân Tây Lương. Giữa tháng 1/1965, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã đề ra phương hướng, nhiệm vô năm 1965 là quán triệt nghị quyết của Bộ Chính trị, trước hết là làm cho toàn Đảng, toàn dân nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức sẵn sàng chiến đấu, xây dựng kinh tế, phát triển văn húa phải kết hợp với xây dựng lực lượng, củng cố quốc phòng, bảo đảm trật tự trị an và chiến đấu thắng lợi, đẩy mạnh công tác phòng không nhân dân. Ngày 13/8/1965, không quân Mỹ chính thức đánh phá Thái Bình, môc tiêu bị đánh phá đầu tiên là trường cấp II xã Bình Nguyên và chợ Gốc (Kiến Xương), và từ đây giặc Mỹ tăng cường đánh phá nhiều nơi khác trong tỉnh. Rút kênh nghiệm một số trận máy bay Mỹ đánh phá gây thương vong nhiều, Tỉnh uỷ Thái Bình ra nghị quyết về “tổ chức tốt hơn nữa công tác phòng không nhân dân”, chú ý cả ba mặt phòng, tránh và đánh địch. Nghị quyết nhấn mạnh: chống chủ quan, đào thêm hầm hố, củng cố lại hầm hào, nhất là vùng trọng điểm, cấm đậu thuyền, xe cộ tập trung, ngôy trang tốt cầu, cống, kho tàng. Thực hiện nghị quyết của Tỉnh uỷ và sự chỉ đạo thống nhất của Huyện uỷ, nhân dân Tây Lương đã đào 796 hố cá nhân công cộng, 317 hầm kèo chữ A, 937 hố trong nhà (trong đã có 515 hố có nắp). Các lớp học sơ tán đều có hầm hào chắc chắn, ban đêm mọi sinh hoạt: biểu diễn văn nghệ, lớp học văn húa không được để lộ ánh sáng. Hồi 13 giờ 30 phút ngày 1/6/1966 (24/4 âm lịch) hai tốp máy bay gồm 6 chiếc từ cửa Trà Lý lao vào Thị xã Thái Bình rồi bất ngi quay lại khu vực thôn Lương Phú, doanh trại bộ đội thay nhau lao xuống đánh bom. Toàn bộ khu vực doanh trại bộ đội và một phần khu dân cư xóm 8 (Lương Phú) chìm trong khói bom đạn, chúng dội hơn 70 quả bom và nhiều đạn rốc kột xuống các khu dân cư và doanh trại bộ đội, riêng khu dân cư xóm 8 (Lương Phú), 6 gia đình bị bom tàn phá làm 5 người chết tại chỗ, 8 người bị thương, sau đã chết thêm 2 người bị thương nặng trên đường đi cấp cứu. Nhà ông Mai Tuân trúng bom tan nát toàn bộ nhà và bếp, làm chết mẹ già, 3 con nhỏ(1). Sau một tuần chúng lại tiếp tục đánh phá khu vực doanh trại và khu dân cư xóm 8 lần nữa, nhà ông Ngô Văn Hoà bị trúng bom làm chết một cháu bộ, nhà cửa tan nát. Ngay sau các trận giặc Mỹ đánh phá, Đảng uỷ, Ban Chỉ huy xã đội có mặt kịp thời trực tiếp chỉ huy lực lượng khắc phục hậu quả, tổ chức an táng người chết, sơ cứu, tải thương đi cấp cứu, san lấp hố bom, vận động nhân dân giúp đỡ các gia đình ổn định cuộc sống. Những ngày tháng sau đã, máy bay Mỹ tăng cường hoạt động không kích bắn phá hầu khắp các trọng điểm kênh tế, quốc phòng, khu dân cư, các công trình cầu cống, đi điều, trường học… cả đêm lẫn ngày. Chúng càng đánh phá, dân quân tự vệ và nhân dân trong xã càng kiên cường chống trả quyết Liệt. Các tổ trực chiến bắn máy bay Mỹ được thành lập, trạm gác báo động phòng không được tổ chức, hầm hố, công sự chiến đấu được củng cố. Lực lượng dân quân tự vệ được tăng cường, có gia đình 3 cha con, trai gái đều tham gia lực lượng dân quân, tỷ lệ dân quân chiếm 12 – 15% dân số. Với phương châm máy bay địch xuất hiện thì dân quân du kích vào vị trí chiến đấu, máy bay Mỹ đi qua thì mọi người ai vào việc nấy. Mọi sinh hoạt trở lại bình thường, với khẩu hiệu “tay cày, tay súng; tay cuốc, tay súng”, sẵn sàng đánh máy bay Mỹ mọi lúc, mọi nơi. Để tăng cường lực lượng trực tiếp đánh trả máy bay Mỹ bảo vệ các môc tiêu, được sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Chỉ huy huyện đội Tiền Hải, Ban Chỉ huy xã đội Tây Lương thành lập tổ dân quân trực chiến gồm các đồng chí: Nguyễn Văn lênh (xã đội trưởng) cùng các đồng chí Ngô Duy Thạo, Tô Văn Mẩu, Tô Ngọc Phiện trực tiếp chỉ huy làm nhiệm vô trực chiến tại khu vực Trà Lý, Tam Đồng với trang bị 2 khẩu 12,7 ly, 3 đại liên và một số súng trường đã tham gia nhiều trận đánh trả máy bay địch, khống chế hoạt động tầm thấp của chúng, bảo vệ kho lương thực, doanh trại bộ đội, tiếp nhận kho lương thưc Trà lý sơ tán về kho Trung Tiến, đền thờ Mẫu Đại Càn, kho vật tư nông nghiệp, xưởng canô xà lan. Nhiều gương chiến đấu dòng cảm bám trận địa chiến đấu như Nguyễn Văn Đại, Hoàng Y, Đặng Ngôn, Tô Xuân Thiếu, Tạ Ngọc Lưu… Dã man hơn, kẻ địch còn thả bom nổ chậm, bom từ trường trên cánh đồng Lương Phú, Tam Đồng, sông Trà Lý. Trước âm mưu nham hiểm đã, dân quân du kích tổ chức phá 36 quả bom nổ chậm, san lấp hố bom, bảo vệ sản xuất. Lúc này theo gương các cô lão dân quân Hoằng Hoá (Thanh Hoá) tham gia trực chiến đánh máy bay Mỹ, không chỉ có lực lượng thanh Niên tham gia dân quân mà cả những cô Phụ lão cũng tham gia tích cực. Điển hình là cô Phạm Thị Đanh (cô Báp) đã xung phong lái thuyền trên sông Trà Lý cho bộ đội, dân quân rà phá bom từ trường, giải phúng luồng sông cho tầu, thuyền qua lại an toàn, được Hồ Chủ tịch gửi tặng Huy hiệu của Người. Tin vui quân dân Tiền Hải bắn rơi máy bay Mỹ tháng 10/1966 càng củng có niềm tin của nhân dân trong xã, trung đội dân quân trực chiến của xã còn cơ động phối hợp với các đơn vị bạn săn lùng máy bay địch dọc triền sông Trà qua Đông Long, Đông Hoàng, Đông Minh và chiến đấu hàng trăm trận. Nhiều chị em nữ xung phong vào đơn vị pháo phòng không của huyện để được góp phần bắn rơi máy bay địch. Năm 1972 giặc Mỹ đánh phá vào Tây Lương liên tục, ác Liệt và kéo dài gồm hàng trăm quả bom các loại dội xuống các khu dân cư thuộc thôn Thượng, thôn Nghĩa, đình Tam Đồng… nhiều quả không nổ, có quả nổ ngay làm chết con Liệt sỹ chống mỹ Hoàng Câu, phá huỷ nhiều nhà cửa, tài sản, lúa, hoa mầu của nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ, chính quyền, Ban Chỉ huy xã đội tổ chức đơn vị công bênh gồm 17 người, do đồng chí Đặng Ngôn, Tô Xuân thiếu Phụ trách, được Ban Công bênh tỉnh huấn luyện đã dòng cảm, ngoan cường cùng nhân dân đào phá bom hàng tháng và hoàn thành xuất sắc nhiệm vô, được tỉnh đội Thái Bình tặng Bằng khen và được đi báo công diễn tập kỹ thuật ở Quân khu Ba. Vừa đánh phá ác Liệt, máy bay Mỹ còn thả truyền đơn để đe doạ và khủng bố tinh thần nhân dân “Mỹ được Mỹ ở đến già, Mỹ thua Mỹ thả mỗi nhà một bom”… nhưng nhân dân cả nước nói chung, nhân dân Tây Lương nói riêng quyết không sợ “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Trong lúc phải đối phú với máy bay Mỹ đánh phá ác Liệt, thời tiết lại không thuận lợi, nhân dân trong xã đã xác định “thắt lưng buộc bông” xây dựng những cánh đồng “Quảng Trị kiên cường thắng Mỹ” với tinh thần “thóc thừa cân, quân vượt mức”. Trong cuộc chiến đấu đánh trả máy bay địch, Đảng bộ Tây Lương đã huy động 4.800 lượt người tham gia chiến đấu và khắc phục hậu quả do bom đạn tàn phá, trong đã có 3.040 lượt Phụ nữ tham gia xây dựng các trận địa, côm chiến đấu Trà Lý, trạm ra đa thôn Nghĩa, trận địa tên lửa Tây Sơn, trận địa pháo phòng không Đông Minh, Đông Lâm, Đông Long. Có thể nói trong những năm tháng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đã có những đóng góp quan trọng, góp phần cùng Đảng bộ và nhân dân Tiền Hải và cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
2- Tích cực chi viện sức người, sức của cho chiến trường, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Với tinh thần “tất cả cho Tiền tuyến”, “tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, ngày 21/4/1965, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phát động “lệnh tổng động viên cục bộ”. Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng cứu nước, cũng như các địa phương khác trong huyện, thanh Niên Tây Lương sôi sục phong trào “ba sẵn sàng”. Nhiều người viết đơn tình nguyện tòng quân, có ông bố, bà mẹ đã trực tiếp lên xã đề nghị cho con đi bộ đội, khá đông bộ đội chống Pháp cũng hăng hái tình nguyện tái ngũ. Trong 10 năm (1965-1975) thực hiện lệnh tổng động viên côc bộ của uỷ ban thường vụ Quốc hội, 630 thanh Niên xã Tây Lương đã hăng hái tòng quân vào bộ đội chiến đấu, đưa tổng số quân nhân trực tiếp chiến đấu trên các chiến trường chống Mỹ là 839 đồng chí, trong số này cán bộ đương chức của xã có 1 uỷ viên thường vụ, 4 đảng uỷ viên, trong đã có 2 đồng chí xã đội trưởng, 45 đồng chí đảng viên là cán bộ trong các ban ngành đoàn thể, hợp tác xã và các thôn, 105 gia đình có 2 con, 29 gia đình có 3 con, 2 gia đình có 4 con (Cô Phạm Văn Đạm Thôn Nghĩa, cô Phạm Thiện thôn Tam Đồng), 1 gia đình có 2 cha con cùng chung 1 chiến hào đánh Mỹ là gia đình đồng chí Nguyễn Bộc ở thôn Trung Tiến, trong đã có 204 Liệt sỹ, 138 thương bệnh bênh, nhiều quân nhân về địa phương nhưng bị nhiễm chất độc da cam. Nhiều nữ giáo viên cấp I, II đã đăng ký dạy thêm giờ để nam giới tòng quân ra trận, nhiều chị em Phụ nữ đã đảm nhiệm công việc nặng nhọc như cày bâa thay nam giới. Trong các đội chuyên của hợp tác xã có 51/77 Phụ nữ đội khoa học kỹ thuật, 37/57 chị trong đội thuỷ lợi chuyên (202), 18 chị trực tiếp cày bừa, 327 chị trong đội chuyên làm phân bón . . . toàn xã có hàng trăm nam nữ thanh Niên hưởng ứng các phong trào "ba sẵn sàng, ba đảm đang" Năm 1966 Đảng bộ và nhân dân Tây Lương sôi nổi học tập Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch “không có gì quý hơn độc lập tự do”, khí thế tiến công cách mạng và niềm tin vào Đảng, vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày càng tăng cao. Trong năm, thực hiện tuần lễ phát động thanh Niên “ba sẵn sàng”, toàn xã có 66 thanh Niên viết đơn tình nguyện đi chiến đấu, trong đã có nhiều người ở độ tuổi từ 18 đến 35. Đầu năm 1968, sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân cả nước “hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”. Hưởng ứng Lời kêu gọi của Bác, phong trào tình nguyện tòng quân đánh giặc đã diễn ra sôi nổi. Chỉ tính riêng năm 1968, trong 5 đợt giao quân, xã Tây Lương đã có 107 thanh Niên nhập ngũ, đạt 127% kế hoạch, trong đã có 7 đảng viên. Trong những năm 1969 đến 1972, tình hình chiến sự ở chiến trường miền Nam càng trở nên quyết Liệt, công tác tuyển quân chi viện cho chiến trường đòi hái số lượng lớn, chỉ tiêu giao quân cao và khẩn trương hơn các năm trước. Khó khăn lớn trong công tác tuyển quân trong giai đoạn này là số thanh Niên trong độ tuổi 18 – 25 dần dần ít đi; tuy vậy, Đảng bộ và nhân dân trong xã đã tích cực động viên, khuyến khích các tầng lớp nhân dân, tổ chức hội nghị “hội mẹ chiến sỹ”, tập trung Tuyên truyền, vận động cho công tác tuyển quân nhằm đáp ứng yêu cầu của chiến trường, hoàn thành chỉ tiêu giao quân. Nên năm 1972 có 80 thanh Niên hăng hái tòng quân, trong đã có 12 nữ, đạt 110% kế hoạch; năm 1973 giao 64 thanh Niên bổ sung cho đơn vị bộ đội và chủ lực miền chuẩn bị cho đánh lớn ở chiến trường đồng bằng Nam Bộ, vượt chỉ tiêu 140%. Như vậy, từ năm 1965 đến 1975 toàn xã đã thực hiện nghiêm túc chỉ tiêu giao quân hàng năm, với 630 thanh Niên lên đường đánh giặc, gấp gần 4 lần số thanh Niên nhập ngũ trong những năm 1959 – 1964. Và để người Lính yên tâm lên đường chiến đấu, cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể trong xã đã thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Chính quyền xã bố trí 1 đồng chí nữ xã đội phó chuyên trách việc quản lý các gia đình thuộc đối tượng chính sách và cấp phát Tiền trợ cấp hàng tháng, thực hiện phát Tiền Phụ cấp thương bênh, Liệt sỹ, trợ cấp gia đình có con đi B, C… đến tận nhà, tận tay, đúng kì, đủ số, không để sai sút. Con Liệt sỹ, thương bênh, con quân nhân tại ngũ được xột miễn giảm học phí trong học tập, đề nghị để được ưu tiên vào học các trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp và đi đào tạo ở nước ngoài. Bố, mẹ, vợ, con bộ đội được ưu tiên sắp xếp công việc phù hợp trong Hợp tác xã, đảm bảo ngày công có thu nhập. Hợp tác xã nông nghiệp thực hiện phương án ăn chia điều hoà lương thực cho các gia đình bộ đội đi B, C, giúp đỡ những gia đình bộ đội, thương bênh, Liệt sỹ gặp khó khăn, đảm bảo mức sống bình quân từ 9 đồng đến 11 đồng/người/tháng. Chị em là vợ Liệt sỹ, thương binh, bộ đội tại ngũ được tín nhiệm giao nhiệm vô trong Đảng, chính quyền và các đoàn thể. Do có nhiều thành tích trong công tác tuyển quân chi viện cho chiến trường, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba. Cùng với việc chi viện sức người, Đảng bộ và nhân dân trong xã còn tích cực chi viện sức của cho tiền tuyến. Hàng năm, lượng lương thực, thực phẩm được huy động chi viện cho chiến trường ngày càng lớn, chiếm trên 20% lương thực, khoảng 45 đến 60 tấn thực phẩm. Phát huy truyền thống anh hùng chống giặc ngoại xâm của các thế hệ cha anh, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đã anh dũng kiên cường đánh thắng chiến tranh phá hoại, tích cực chi viện sức người, sức của cho các chiến trường, cùng Đảng bộ và nhân dân trong huyện và nhân dân cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Với ý chí quyết tâm và Nêềm tên sắt đá vào tính tất thắng của cuộc chiến tranh chính nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Tây Lương đã anh dòng lập nhiều thành tích trong công tác xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, tổ chức lực lượng chủ động đón lõng bắn máy bay Mỹ khi chúng xâm phạm vùng triê quê hương, bảo vệ an toàn các môc tiêu. Đặc biệt là đã huy động sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân hăng hái tham gia cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Nhân tố quyết định góp phần làm nên thắng lợi trong những năm chống Mỹ là sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng bộ. Từ đó khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng căm thự giặc, truyền thống kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm của các tầng lớp nhân dân cả trẻ, già, trai, gái đều hăng hái tham gia cuộc chiến tranh chống Mỹ và đưa cuộc chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của nhân dân cả nước “đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, giải phúng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Trong suốt hai cuộc trường kì kháng chiến chống giặc ngoại xâm, nhiều con em Tây Lương đã tôi luyện trở thành cán bộ sỹ quan Quân đội, một số đồng chí sau này đã trở thành cán bộ trung, cao cấp, mà tiêu biểu là đồng chí Lê Trung Thành đã được Nhà nước, Quân đội phong hàm cấp Trung tướng và giữ nhiều trọng trách trong Quân đội.
3- Xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể vững mạnh, dồn sức cùng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện uỷ, tháng 2/1965 Đại hội Đảng bộ xã Tây Lương lần thứ VII đã bầu đồng chí Hoàng Minh Mạnh làm Bí thư Đảng uỷ. Lúc này cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ngày càng trở nên ác Liệt, để cụ thể hoá nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ Xi (tháng 9/1964), Đảng uỷ xã Tây Lương luôn bám sát nhiệm vô chính trị của địa phương để xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức cùng toàn Đảng, toàn dân cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Trong công tác xây dựng Đảng, công tác giáo dục chính trị tư tưởng luôn được Đảng uỷ coi trọng. Thời gian này nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng đặt ra là: - Tập trung giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho quần chúng nhân dân và phát huy tính Tiền phong gương mẫu của đảng viên. - Thường xuyên quan tâm bồi dưỡng chính trị, văn húa, kỹ thuật, quản lý kênh tế cho cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao năng lực công tác, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. - Tích cực Tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia ba cuộc vận động lớn của Đảng là: cải tiến quản lý Hợp tác xã nông nghiệp; ba xây, ba chống; xung phong đi xây dựng vùng kinh tế mới. - Tổ chức các phong trào thờ đua của quần chúng như phong trào “ba sẵn sàng”, “ba đảm đang” nhằm đẩy mạnh nhiệm vô sản xuất và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. - Tuyên truyền giáo dục nhân dân, thanh Niên về nghĩa vô bảo vệ Tổ quốc và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Việc quán triệt sâu sắc những quan điểm cơ bản các nghị quyết số 11, 12 của Trung ương và nhất là việc tổ chức học tập Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “không có gì quý hơn độc lập tự do” đã góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về những chủ trương, chính sách của Đảng trên mọi lĩnh vực kênh tế, chính trị, quốc phòng, đề cao ý thức chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nâng cao nhiệt tình cách mạng, quyết tâm phấn đấu hoàn thành nhiệm vô trong giai đoạn cách mạng mới. Ý thức rõ về vị trí, tầm quan trọng của tổ chức cơ sở Đảng trước yêu cầu nhiệm vô mới, Đảng bộ đã đề ra nhiệm vô cô thể cho công tác xây dựng Đảng là tăng cường củng cố tổ Đảng, Chi bộ, rốn luyện đảng viên theo yêu cầu 4 tốt (sản xuất, chiến đấu tốt; tổ chức đời sống tốt; chấp hành chính sách tốt; xây dựng Đảng tốt). Từ trong phong trào đã, nhiều đảng viên đã xung phong đi đầu trong phong trào Hợp tác hoá và vận động nhân dân tham gia Hợp tác xã. Trong sản xuất, Đảng bộ, Chi bộ thực hiện phân công đảng viên và tổ Đảng Phụ trách Từng khâu công việc: làm đất, phân bón, thuỷ lợi, nhân giống…, phân công đảng viên trực tiếp Phụ trách Từng cánh đồng, nhi đã mà đảng viên luôn luôn phát huy tốt vai trò lãnh đạo, vai trò nòng cốt trong các đội sản xuất. Để tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác quân sự địa phương, Đảng bộ đã kiện toàn Ban Chỉ huy xã đội, phân công một đồng chí Đảng uỷ viên là xã đội trưởng, đồng chí Bí thư Đảng uỷ trực tiếp làm Chính trị viên xã đội. Đảng viên trong tuổi quy định đều phải tham gia dân quân tự vệ và là nũng cốt trong phong trào xây dựng lực lượng. Công tác tuyển quân chi viện cho chiến trường, nhất là những năm chiến tranh ác Liệt như 1968, trong 107 thanh Niên nhập ngũ có 7 đảng viên hăng hái lên đường tòng quân và viết đơn tình nguyện ra chiến trường để được trực tiếp chiến đấu. Công tác phát triển đảng viên mới được Đảng bộ thường xuyên coi trọng. Năm 1965 Đảng bộ kết nạp được 11 đảng viên, tăng 16,3% so với năm 1964, trong đã tuổi trẻ chiếm 67%. Hàng năm Đảng uỷ đều cử các quần chúng ưu tú dự các lớp tìm hiểu về Đảng, đồng thời có kế hoạch bồi dưỡng, giúp đỡ để họ phấn đấu vươn lên. Năm 1966 Đảng bộ kết nạp được 10 đảng viên mới (trong đã có 3 nữ). Năm 1967 đến 1970, trước yêu cầu của nhiệm vô, nhất là ngày 4/4/1970, Ban Bí thư Trung ương Đảng có chỉ thị về “nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh”, công tác phát triển Đảng càng được Đảng bộ thực hiện nghiêm túc và quan tâm hơn, đã kết nạp được 43 đảng viên, nâng tổng số đảng viên của Đảng bộ đến tháng 3/1970 là 145 đồng chí. Trong những năm 1971 – 1975, Đảng bộ chỉ đạo cho các Chi bộ phân công đảng viên Phụ trách các đoàn thể quần chúng, thông qua đã thực hiện nhiệm vụ phát triển Đảng đảm bảo yêu cầu số lượng và chất lượng, vì vậy sau khi được học chỉ thị 192 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng bộ có 177 đảng viên. Do làm tốt công tác phân công công tác cho đảng viên, các Chi bộ, đảng viên phấn đấu đạt tiêu chuẩn 4 tốt ngày càng tăng. Năm 1965 Đảng bộ có 98 đảng viên thì 67 đảng viên đạt tiêu chuẩn 4 tốt, bằng 68,3%, có 5/6 Chi bộ đạt 4 tốt, 1 chi bộ khá. Năm 1967 các đội sản xuất ở Tây Lương đều có đảng viên. Từ năm 1969 yêu cầu 4 tốt được cô thể húa cho mỗi đảng viên, công tác tự phi bình và phi bình được đưa vào nội dung sinh hoạt Chi bộ hàng tháng. Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện uỷ, cuối năm 1969, trước khi bước vào Đại hội Đảng bộ lần thứ Xiê, Đảng bộ tổ chức sơ kết phong trào 4 tốt, toàn Đảng bộ có 118/177 đảng viên đạt tiêu chuẩn 4 tốt, 51 đảng viên chưa đạt và 8 yếu kộm; 16/32 tổ Đảng đạt tiêu chuẩn 4 tốt. Qua phong trào thờ đua phấn đấu đạt tiêu chuẩn 4 tốt, các Chi bộ Đảng và đảng viên nâng cao được vai trũ lãnh đạo và sức chiến đấu, hầu hết đảng viên của Đảng bộ phát huy tính tiền phong gương mẫu, được nhân dân tin tưởng. Song song với nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh tế, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên được Đảng bộ chú trọng. Trong những năm 1965 – 1969 Đảng bộ đã cử 5 đồng chí đi học lớp quản lý kinh tế Hợp tác xã ở trường Quỳnh Côi và trung cấp chính trị tại trường Đảng tỉnh; 11 Chi uỷ viên và tổ trưởng tổ Đảng học bồi dưỡng chính trị tại trường Đảng huyện. Từ năm 1970 – 1974 số cán bộ, đảng viên được cử đi học các lớp bồi dưỡng ngày một tăng. Đã có 9 đồng chí đi học trường Đảng tỉnh, huyện, 12 đồng chí học văn húa tập trung và tại chức, 7 đồng chí học trung cấp chăn nuôi, 5 đồng chí học trung cấp trồng trọt, 15 đồng chí học sơ cấp kế toán về trực tiếp làm cán bộ hợp tác xã, đội sản xuất, đây là lực lượng quan trọng bổ sung, tăng cường cho đội ngũ lãnh đạo, cán bộ quản lý tại địa phương. Hầu hết số cán bộ được đào tạo tại các trường về đều phát huy tốt vai trò, hoàn thành tốt nhiệm vô được đảng và nhân dân giao cho, tiêu biểu như đồng chí Vũ Đức thờểm từ chủ nhiệm hợp tác xã liên thôn năm 1967 lên làm chủ nhiệm hợp tác xã toàn xã năm 1975; Hợp tác xã liên tục đạt danh hiệu xuất sắc của huyện. Đặc biệt trong lĩnh vực quản lý tài chính kênh tế, hợp tác xã đến thời điểm chuyển đổi mô hình quản lý, hợp tác xã nông nghiệp xã Tây Lương là hợp tác xã duy nhất của huyện không nợ nhà nước mà có nguồn tài sản lớn dựng cho việc kiến thiết các công trình cơ sở hạ tầng như: Trụ sở, hội trường xã, đường trường, trạm xá ..... Về công tác kiểm tra: được gắn với chương trình thâm canh tăng vô, củng cố quan hệ sản xuất mới, vấn đề tài chính của Đảng, dân chủ và kỷ luật Đảng. Quán triệt nghị quyết 195 ngày 6/3/1970 của Bộ Chính trị, qua 4 năm phấn đấu thực hiện, đội ngũ cán bộ, đảng viên được tôi luyện và trưởng thành, góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong lúc khó khăn và nâng cao uy tín của Đảng bộ. Thực hiện chỉ thị số 192 ngày 26/10/1971 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc “đưa người không đủ tư cách ra khái Đảng”. Từ năm 1965 đến 6/1973, Đảng bộ đã tiến hành nhiều đợt rà soát ở Chi bộ, Từng tổ Đảng và đảng viên. Kết quả xử lý kỷ luật 16 đảng viên (có 5 cấp uỷ), đã đưa ra bằng hình thức khai trừ, xóa tên, cho rút không công nhận đảng viên 14 người (trong đã: đưa ra khái Đảng 8, cho rút 3, 3 đảng viên bị quá hạn không chuyển chính thức), 1 lưu Đảng 9 tháng, 2 cảnh cáo, tuổi đời của đảng viên bị xử lý kỷ luật chủ yếu từ 18 đến 50, nội dung sai phạm chủ yếu là vi phạm nguyên tắc, tiêu chuẩn Đảng và vi phạm chính sách pháp luật, tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa. Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, song trong qúa trình lãnh đạo thực hiện, công tác xây dựng Đảng trong những năm 1965 – 1975 ở Tây Lương vẫn còn một số tồn tại, khuyết điểm: vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp… chưa thật toàn diện; công tác phát triển Đảng có thời kì coi trọng số lượng mà chưa thật quan tâm nhiều về chất lượng, từ sau khi có Chỉ thị 192 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, công tác phát triển Đảng được tiến hành thận trọng, chặt chẽ hơn; nề nếp, chất lượng sinh hoạt tổ Đảng, Chi bộ còn thấp; nguyên tắc tập trung dân chủ, đấu tranh tự phê bình và phê bình chưa được đề cao… Những kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác Liệt mà Đảng bộ xã Tây Lương đã vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh có thể của địa phương, đã xác định được những chủ trương đúng và tổ chức thực hiện đạt hiệu quả. Điểm nổi bật là Đảng bộ đã luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm và tổng kết thực tờễn, từ đã nhân ra diện rộng. Từ kênh nghiệm phân công công tác cho đảng viên, phân công cán bộ Phụ trách từng việc, từng cánh đồng và thường xuyên kiểm tra đôn đốc… là những bài học khá sinh động mà Đảng bộ xã đã rút ra được và thực hiện trong những năm qua. Từ năm 1965 chính quyền xã tập trung triển khai tổ chức thực hiện các nhiệm vô chính trị quan trọng là vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa tích cực chi viện sức người, sức của cho chiến trường. Vì vậy giai đoạn này, vai trò của chính quyền có vị trí quan trọng đặc biệt, như tổ chức lực lượng, quyết định phương án chiến đấu, tổ chức tuyển quân đảm bảo chỉ tiêu, huy động lương thực thực phẩm hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước, chỉ đạo phát triển kinh tế Hợp tác xã nông nghiệp… Uỷ ban hành chính xã đã có nhiều nỗ lực cố gắng trong quản lý sản xuất, quản lý kinh tế, quản lý mọi mặt đời sống xã hội trong hoàn cảnh chiến tranh ác Liệt, đã hoàn thanh xuất sắc các chỉ tiêu trên giao. Tháng 4/1971 – 4/1972 cùng với nhân dân trong huyện, nhân dân Tây Lương thực hiện bầu cử Quốc hội khoá IV và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp đảm bảo đúng luật và đã lựa chọn được những đại biểu có đức, có tài vào các cơ quan dân cử đạt kết quả tốt. Phát huy vai trò của mình, Mặt trận Tổ quốc đã tích cực vận động mọi tầng lớp nhân dân mà trọng tâm là vận động các cô Phụ lão tham gia vào tổ trồng cây, bảo vệ trâu, bò, bảo vệ sản xuất, giúp đỡ bộ đội, dân quân du kích rà phá bom mìn, tham gia vận động con cháu xung phong tòng quân, vận động nhân dân tham gia Hợp tác xã nông nghiệp và thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhiều cô đạt danh hiệu Phụ lão “3 giái”, trong đã có cô Phạm Thị Đanh được Bác Hồ tặng Huy hiệu. Mặt trận Tổ quốc xã trong thời gian này thực sự là trung tâm đoàn kết, quy tô mọi tầng lớp nhân dân quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đoàn Thanh Niên trong xã suốt những năm 1965 – 1975 thực sự là lực lượng xung kích trên mặt trận sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Từ 1969, tổ chức Đoàn được mang tên Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Đây là lực lượng trẻ, khỏe, có văn hóa, chiếm trên 30% lao động ở địa phương; là lực lượng đi đầu trong học tập, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật thâm canh, chọn giống, làm thuỷ lợi, làm phân bón, phòng chống sâu bệnh, phòng chống bão lụt, xây dựng Hợp tác xã và vận động nhân dân thực hiện nếp sống mới. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thanh Niên Tây Lương đã sôi nổi hưởng ứng phong trào sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc cần. Và hơn ai hết, các anh, các chị đã hướng dẫn thiếu Niên tham gia phong trào “thi đua làm nghìn việc tốt” với tinh thần “tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, các em đã tham gia bắt sâu, diệt chuột, cắt cỏ khao trâu, giúp đỡ các gia đình thương binh, Liệt sỹ. Hưởng ứng phong trào “ba đảm đang”, Hội Phụ nữ xã đã động viên chị em “đảm việc nước, giái việc nhà”, động viên nhau tích cực tăng gia sản xuất, xây dựng, củng cố Hợp tác xã, xung phong làm những công việc nặng nhọc (cày, bừa) để chồng, con yên tâm ra đi đánh giặc(1). Hội tổ chức các lớp mẫu giáo, nhà trẻ tạo điều kiện giải phóng Phụ nữ để chị em có thời gian học tập, công tác. Nhiều chị em, ngoài việc hăng say sản xuất còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Hàng chục chị hăng hái tham gia thanh Niên xung phong, đi dân công hoả tuyến, công nhân quốc phòng, trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Mười năm (1965 – 1975) là giai đoạn lịch sử mà Đảng bộ và nhân dân Tây Lương phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách quyết Liệt. Sản xuất nông nghiệp tuy đạt mục tiêu 5 tấn thúc/ha nhưng đời sống nhân dân còn khó khăn, song vẫn một lòng tên theo Đảng, anh dũng đánh trả chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ và tích cực chi viện cho chiến trường miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, do trong chiến tranh ác liệt, nhân dân Tây Lương đã kiên cường bám trụ, hăng say lao động sản xuất, coi “ruộng đồng là chiến trường, cuốc cày là vũ khí” và “hậu phương thi đua với tiền phương”, lập nên thành tích 5 tấn thúc/ha, đáp ứng yêu cầu chi viện cho chiến trường. Trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn, Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo nhân dân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ quê hương, tích cực chi viện sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng miền Nam. Trong lúc cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế chưa đáp ứng yêu cầu, Đảng bộ xã đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cải tiến quản lý Hợp tác xã nông nghiệp, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy và mở đường cho sức sản xuất phát triển. Từ trong khó khăn, thiếu thốn nhưng nhân dân Tây Lương đã dốc hết lòng chi viện cho Tiền tuyến với tinh thần “thúc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” với hàng trăm thanh Niên hăng hái nô nức ra đi đánh giặc, trên 80% số hộ xã viên là gia đình bộ đội. Là xã nằm ở cửa ngõ phía Đông bắc của huyện, nhân dân Tây Lương đã phối hợp với các lực lượng và các địa phương bạn anh dũng đánh trả máy bay Mỹ, tổ chức tốt phòng không nhân dân, bảo vệ an toàn các môc tiêu trọng điểm như đê điều, kho tàng, phương tiện vận tải… hạn chế tới mức thấp nhất những thiệt hại về tính mạng và tài sản nhân dân. Cho đến năm 1975, Tây Lương đã lần lượt tiễn đưa 630 thanh Niên lên đường đánh Mỹ và hàng trăm nam, nữ đi thanh Niên xung phong, dân công hoả tuyến, góp phần cùng Đảng bộ và nhân dân Tiền Hải hoàn thành xuất sắc nhiệm vô của hậu phương lớn đối với Tiền tuyến anh hùng. Toàn xã có 1028 hộ = 80% gia đình được UBND tỉnh tặng bằng khen về thanh tích chống Mỹ cứu nước, 938 người được chủ tịch nước tặng huân chương kháng chiến, 1 người được tặng thưởng huân chương độc lập hạng ba, 394 bằng dòng sỹ, 118 chiến sỹ thờ đua, 701 lao động tiên tiến, 11 mẹ được phong tặng Mẹ Việt Nam anh hùng. Trong đã có 7 mẹ được truy tặng, 4 mẹ còn sống được phong tặng. Do có nhiều đóng góp xứng đáng, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba, 1 huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, Huân chương lao động hạng ba và nhiều cờ thưởng thờ đua của tỉnh của huyện, 5 đơn vị được tặng danh hiệu tổ, đội lao động XHCN thời kì chống Mỹ cứu nước.
CHƯƠNG BỐN KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KêNH TẾ, CÙNG CẢ NƯỚC ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1975 – 1985)
Công cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã kết thúc thắng lợi vẻ vang, đưa lịch sử dân tộc ta bước sang kỷ nguyên mới - cả nước cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nghị quyết Trung ương lần thứ 24 (khoá III) đã chỉ rõ “nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới là hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc phải đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1). Bước vào giai đoạn cách mạng mới (1975 – 1985), Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đứng trước nhiều khó khăn, thách thức do hậu quả của cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ gây ra trên địa bàn xã chưa được khắc phục. Trong nhiều năm phải dồn sức thực hiện khẩu hiệu “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, với “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, vì vậy lực lượng lao động lúc này vừa thiếu, vừa mất cân đối nghiêm trọng. Trong khi đã nền kinh tế của xã vẫn còn là sản xuất nhỏ, phân tán, sức sản xuất và năng xuất lao động thấp, năng lực lãnh đạo, tổ chức và quản lý kinh tế còn nhiều bất cập. Sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc và ảnh hưởng của thiên nhiên. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế còn thiếu thốn… nên đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn. Song Đảng bộ và nhân dân Tây Lương cũng có thuận lợi cơ bản là: đất nước hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược; nhân dân trong xã có truyền thống lao động cần cù, thông minh và sáng tạo, tiềm năng phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nghề, làng nghề truyền thống rất lớn; Đảng bộ có số đảng viên đông, đoàn kết thống nhất; trải qua sản xuất, chiến đấu đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp từng bước được tăng cường, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố và hoàn thờện, nền nông nghiệp hợp tác hoá trên địa bàn xã đang ở thế đi lên. Dưới ánh sáng nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV và nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đã, đang và sẽ tập trung mọi nỗ lực lãnh đạo khắc phục nhanh chóng hậu quả chiến tranh, hoàn thành các nhiệm vụ trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân vững mạnh.
I- ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp: Để tiếp tục đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng và con vật nuôi lên một bước, trọng tâm là cây lúa, phấn đấu đạt năng suất từ 7 tấn đến 9 tấn/ha/năm, đưa nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc, theo hướng tập trung, chuyên canh, Từng bước tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, phấn đấu giải quyết nhanh, mạnh, vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm. Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện uỷ Tiền Hải, từ ngày 20 – 22/9/1975, Đại hội Đảng bộ xã Tây Lương lần thứ XVIII đã được tiến hành, dự Đại hội có 133 đại biểu thay mặt cho 180 đảng viên của Đảng bộ. Đại hội đã đánh giá những yếu kộm, tồn tại; đề ra phương hướng, mục tiêu nhiệm vô cho nhiệm kì tới và bầu 13 đồng chí vào Ban Chấp hành Đảng bộ, đồng chí Trần Văn Tiềm tiếp tục được bầu làm Bí thư Đảng bộ, đồng chí Hoàng Xuân Đĩnh – Phó Bí thư - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã. Phát huy thế mạnh của một xã giầu tiềm năng đất đai, lao động…, nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã đã xác định: tận dụng và khai thác hết khả năng tiềm tàng, những điều kiện hiện có của địa phương, trước hết là nông nghiệp. Trong nông nghiệp tập trung làm tốt cây lúa, con lợn, con vịt, cây màu vụ đông, đồng thời phát triển thủ công nghiệp vững chắc… nhằm phấn đấu giải quyết tốt vấn đề lương thực, thực phẩm và các nhu cầu khác. Quán triệt các quan điểm chỉ đạo của nghị quyết, mặc dự trong những tháng cuối năm 1975 thiên tai xảy ra liên tiếp, vụ Mùa gặp không ít trở ngại, năng suất thấp, đầu năm 1976 thời tiết diễn biến phức tạp, rét đậm kéo dài, lúa cấy đến đâu chết đến đấy (tổng diện tích mất trắng lên đến 103 mẫu), Đảng uỷ đã chỉ đạo đem 5 tấn thóc thịt đổi thóc 203 về gieo vãi. Kết quả năng suất lúa đạt 62 tạ/ha, tăng 4 tạ/ha so với năm 1970(1). Về chăn nuôi: đàn lợn năm 1975 (cả khu vực tập thể và gia đình) có 2.197 con (tăng hơn so với năm 1970 là 134 con). Đàn gia cầm trong các hộ gia đình phát triển mạnh. Hầu hết diện tích ao, hồ, đầm của tập thể và của các hộ gia đình được sử dụng nuôi thả cá, đem lại nguồn thu đáng kể, vừa cải thiện chất lượng bữa ăn và làm nghĩa vụ cho Nhà nước 46 tấn thực phẩm. Sản xuất vụ đông tuy có khó khăn về thời tiết, điều kiện đất đai, giống cây trồng nhưng nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân có bước chuyển biến quan trọng, sự chỉ đạo khá tập trung, quần chúng tích cực hưởng ứng với tinh thần “sáng lúa chiều khoai” (trong đã chủ lực là cây khoai lang, khoai Tây, ngô 3 tháng). Riêng khoai Tây: Hợp tác xã Đồng Phú đầu tư 3.000 đồng mua một tấn Khoai Tây giống trồng trên diện tích 3 mẫu, cho năng suất 446 kg/mẫu, diện tích 23 mẫu Khoai lang có năng suất 2.160 kg/mẫu; 2 mẫu Ngô 3 tháng năng suất 250 kg/mẫu. Những thắng lợi bước đầu nói trên trong sản xuất vụ đông, vô xuân năm 1975 – 1976 là kết quả sau nhiều năm phấn đấu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp, nhất là việc tập trung xây dựng hệ thống thuỷ lợi cũng như các biện pháp kỹ thuật then chốt khác như: phân bón, giống cây trồng, thời vụ, phòng trừ sâu bệnh… đã được thực hiện tốt. Thắng lợi đã gắn liền với việc tăng cường chỉ đạo đẩy mạnh cuộc vận động tổ chức lại sản xuất và cải tiến quản lý nông nghiệp và là kết quả của tinh thần quyết tâm cao của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong xã, thắng lợi đã đánh dấu bước trưởng thành của Đảng bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo nông nghiệp và phản ánh sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên vào hoàn cảnh cô thể của địa phương. Tháng 4/1976, Đại hội Đảng bộ xã Tây Lương lần thứ XIX, dự Đại hội có 100 đại biểu thay mặt cho gần 200 đảng viên, đồng chí Hoàng Xuân Đĩnh được bầu làm Bí thư Đảng uỷ, đồng chí Bùi Thanh Cát bầu làm chủ tịch UBND xã. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ củng cố quan hệ sản xuất Xã hội chủ nghĩa, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật theo hướng sản xuất lớn, cải tiến quản lý kinh tế và mở rộng quy mô Hợp tác xã; trong năm 1976 hợp nhất 2 Hợp tác xã Đại Hoàng và Đồng Phú thành Hợp tác xã Tây Lương, đồng chí Vũ Đức Thiểm thường vụ đảng uỷ được bầu làm chủ nhiệm Hợp tác xã toàn xã. Từ đã Hợp tác xã thực hiện phân vùng đất đai canh tác: vùng trồng lúa, vùng mạ, sản xuất vụ đông, ruộng 5% của xã viên… và tổ chức lại các đội chuyên nhằm nâng cao năng suất lao động và trình độ kỹ thuật cho xã viên(1), việc xây dựng kế hoạch sản xuất, lao động được từng bước đi vào nề nếp. Thực hiện quyết định số 1.507 ngày 18/12/1976 của Thủ tướng Chính phủ từ đầu năm 1977 thôn Tam Đồng được cắt về xã Vũ Lăng với 331 hộ, 566 khẩu, có diện tích đất canh tác 350 mẫu và một số tài sản khác phục vụ sản xuất và đời sống. Đảng bộ xã Tây Lương đã lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vô trên giao, từ đây Tây Lương có bản đồ hành chính đất đai cho đến ngày nay. Thực hiện phương hướng nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp do Đại hội Đảng bộ đề ra trong điều kiện những năm 1976 – 1979 có nhiều khó khăn, nhất là thời tiết. Vụ chiêm xuân năm 1977 rét đậm, hạn hán, trong khi đã Điện và xăng dầu thiếu nghiêm trọng, ảnh hưởng đến thời vô gieo cấy và chăm súc. Vụ xuân năm 1978 mưa dầm dề, độ ẩm cao, lúa thiếu ánh sáng phát triển chậm, thu hoạch muộn làm ảnh hưởng đến gieo cấy vụ Mùa; vụ Mùa mưa lớn, ngập úng cục bộ; vụ xuân năm 1979 thời tiết ấm nên mạ phát triển nhanh, một số diện tích mạ của Hợp tác xã bị già… Trong hoàn cảnh khó khăn đã, với quyết tâm cao, chủ động đối phú với những diễn biến khắc nghiệt của thiên nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, phát huy truyền thống cần cù, dũng cảm trong lao động sản xuất nên đã giành được thắng lợi khá toàn diện. Trong đã diện tích gieo trồng năm 1977 đạt trên 400 ha, các cây trồng vụ xuân đều đạt và vượt kế hoạch. Diện tích vụ đông, trong đã có cây Khoai Tây, Khoai lang tăng mạnh và giành được thắng lợi. Và nếu tính cả rau mầu thì diện tích làm vụ đông năm 1977 chiếm trên 10% tổng diện tích canh tác. Tuy nhiên, sau Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XX vẫn với phương thức Hợp tác xã giao khoán theo đơn vị đội sản xuất: diện tích, sản lượng, các khâu công việc đều do Ban quản trị và ban đội quyết định, xã viên thụ động, đi muộn về sớm… nên sản xuất không kịp thời vụ, chất lượng công việc không cao, hiệu quả ngày công lao động thấp (1,2 – 1,3 kg thúc/ngày công)(1). Nhằm cụ thể hoá nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tiền Hải lần thứ XIX vào điều kiện cô thể của Tây Lương, phát huy quyền làm chủ của xã viên, phát động khí thế cách mạng của quần chúng đẩy mạnh sản xuất; thực hiện 5 công khai: công khai diện tích, năng suất và sản lượng; công khai công điểm; công khai các khoản chi phí; công khai phân phối và công nợ. Nhờ đó các hiện tượng tiêu cực được hạn chế, Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được nâng lên. Để giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, ổn định sản xuất nông nghiệp, được sự chỉ đạo của Huyện uỷ, tháng 11/1978 Đảng bộ Tây Lương tiến hành Đại hội Đảng bộ lần thứ XXI. Thực hiện nghị quyết Đại hội, Đảng bộ đã tập trung đầu tư kinh phí xây dựng, nâng cấp các công trình thuỷ lợi gồm hệ thống mương cấp III ở các cánh đồng, xây dựng một loạt cầu, cống trên các Trục tiêu với hàng ngàn ngày công và đào đắp được 40 – 50 ngàn m3 đất. Hợp tác xã nông nghiệp chủ động vay vốn xây dựng 2 trạm bơm dã chiến, mua 3 thuyền bơm cơ động, 3 máy tuốt lúa, 2 máy xát gạo, và năm 1979 đầu tư kinh phí xây dựng kho đồng cao với diện tích gồm hàng chục gian nhà kho, sân phơi, khu sản xuất cơ khí nông cô… Nhờ đầu tư đúng hướng, có trọng tâm, trọng điểm nên sản xuất nông nghiệp phát triển và với diện tích gieo cấy khá ổn định, đảm bảo tốt khâu thời vụ, chăm bón đúng quy trình kỹ thuật nên năng suất bình quân trong những năm 1976 – 1980 đạt trên 6 tấn/ha (riêng năm 1980 đạt 65,38 tạ/ha), là một trong 4 xã dẫn đầu toàn huyện, chẳng những giải quyết tốt vấn đề lương thực cho nhân dân trong xã mà còn hoàn thành nghĩa vô lương thực với Nhà nước hàng năm 439 tấn trở lên. Do sản xuất phát triển, Hợp tác xã mở rộng thêm trại chăn nuôi, nâng đầu lợn tập thể lên từ 800 - 1000 con. Trọng lượng xuất chuồng từ 52 - 58 kg, sản lượng thịt lợn hơi đạt từ 86.840 - 113.680 kg; 5 máng vịt đẻ với hàng chục nghìn quả trứng và đàn gà trong các hộ gia đình cũng ngày càng phát triển hơn so với các năm trước. Trong lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức phát triển sản xuất, Từng bước thực hiện cải tiến quản lý sản xuất, cải tiến kỹ thuật tăng năng suất cây trồng góp phần cải thờện cuộc sống, từ 1979 - 1982 chiến tranh biên giới xảy ra cùng với nhân dân cả nước, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng: vừa đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, đẩy mạnh phát triển sản xuất, tăng cường tờềm lực kênh tế và quốc phòng, ổn định và cải thờện đời sống nhân dân, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu để chủ động đánh thắng địch trong mọi tình huống là nhiệm vụ quan trọng của Đảng bộ và nhân dân trong xã. Thực hiện nhiệm vụ phát triển nông nghiệp theo nội dung nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXI trong điều kiện có nhiều khó khăn: thời tiết diễn biễn phức tạp, khó lường, được sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện uỷ, với truyền thống cách mạng sẵn có, Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân trong xã vượt qua mọi khó khăn, dòng cảm lao động, tích cực khai thác tờềm năng đất đai, sức lao động và giành được những thắng lợi quan trọng. Tổng diện tích gieo trồng các năm 1981 - 1982 so với hai năm 1979 - 1980 tăng 1,01%, các biện pháp thâm canh: giống, thời vụ, thuỷ lợi, phân bón, bèo dâu, phòng trừ sâu bênh… được cán bộ và nhân dân chủ động thực hiện tích cực. Năng suất lúa tăng từ 60 tạ/ha năm 1979, 65,38 tạ/ha, năm 1980 lên 66,02 tạ/ha, bình quân năng suất lúa 3 năm tăng trên 2 tạ/ha, năm 1981 là năm có năng suất lúa cao nhất kể từ năm 1976. Thực hiện nghị quyết số 63 tháng 9/1980 về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển sản xuất vô đông, để giải quyết những khó khăn vướng mắc, Huyện uỷ đã cho áp dụng cơ chế quản lý mới theo phương thức “tập thể sử dụng ruộng đất bố trí vùng thích hợp để gieo trồng các cây vụ đông, sau khi gieo trồng xong lên định mức Từng khâu công việc, khoán cho hộ xã viên chăm súc, thu hoạch”. Kết quả bước đầu đã tạo được phong trào trồng cây vụ đông trong các hộ xã viên. Hợp tác xã còn giao 15% diện tích dành cho chăn nuôi, giao cho hộ xã viên chủ động chăm sóc và chịu trách nhiệm ở tất cả các khâu đến khi có sản phẩm cuối cùng. Kết quả, diện tích, năng suất cây vụ đông tăng lên rõ rệt. Năm 1981 diện tích cây vụ đông đã tăng lên 12 ha, chủ yếu là Khoai lang, năng suất đạt 82 tạ/ha. Đây là bước khởi đầu, tạo Tiền đề thực hiện chính sách khoán mới trong nông nghiệp mà nhiều nơi trên miền Bắc đã làm. Chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm, cá có bước phát triển. Đàn lợn trong hai năm 1980 - 1981 tăng 1,7% so với tổng đàn bình quân 2 năm 1978 - 1979. Đàn lợn tập thể tính đến 1/10/1980 tăng 19,7%. Chăn nuôi gia cầm, cá trong các hộ gia đình đang có chiều hướng phát triển tích cực, nhất là nhiều hộ phát triển kênh tế vườn, ao, chăn nuôi gắn với nghề thủ công truyền thống, góp phần tăng thu nhập và Từng bước cải thờện đời sống. Thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/1/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về cải tiến cơ chế khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong Hợp tác xã nông nghiệp và hướng dẫn chỉ đạo của Huyện uỷ. Đây là bước thay đổi hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán theo tập thể sang khoán theo nhúm và người lao động (thực chất là khoán theo hộ). Nội dung mở rộng khoán sản phẩm cuối cùng đến nhúm và người lao động là thực hiện biện pháp liên hoàn (8 khâu), trong đã Hợp tác xã nông nghiệp bảo đảm 5 khâu (làm đất, thuỷ lợi, giống, phân bón và bảo vệ thực vật), còn hộ xã viên thực hiện 3 khâu (cấy, chăm bón và thu hoạch). Dưới ánh sáng nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V và chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, được Huyện uỷ chỉ đạo, từ ngày 12 - 13/3/1981 Đảng bộ xã Tây Lương tiến hành Đại hội Đảng bộ lần thứ XXII (nhiệm kì 1981 - 1982). Nghị quyết Đại hội đã xác định: Đẩy mạnh thâm canh và mở rộng diện tích cây lúa, phát triển đàn lợn ở cả khu vực tập thể và gia đình. Phát triển chăn nuôi cá và các con có giá trị kinh tế. Tăng vô, mở rộng diện tích và nâng giá trị sử dụng đất bằng cách mở rộng vô đông, xen canh gối vô chủ yếu là mầu, cây lương thực, khuyến khích phát triển mạnh kinh tế hộ gia đình: vườn cây, ao cá, chăn nuôi, nghề trong nông nghiệp… Triển khai thực hiện các định hướng đó, Ban Quản lý Hợp tác xã nông nghiệp đã chủ động trực tiếp điều hành 5 khâu và coi đây là động lực thúc đẩy sản xuất, khai thác tiềm năng đất đai và lao động, góp phần quan trọng phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã theo tinh thần chỉ thị 100. Trong đã: - Đội làm đất: phân vùng và hợp đồng với trạm cơ khí nông nghiệp huyện phối hợp với sức kéo trâu, bò của Hợp tác xã san bằng, lấp trũng bảo đảm khâu làm đất kịp thời vô. - Đội thuỷ lợi (nông giang): huy động lực lượng khơi thông mương máng để đưa nước trạm bơm Thống Nhất vào đồng ruộng vô chiêm xuân và nước sông Trà Lý vào đồng ruộng vô hố thu, đảm bảo tiêu nước khi bị ngập úng. - Đội giống: chuẩn bị tích cực để có bộ giống có năng suất cao, giống để trồng cây vụ đông như: 203, NN8… thay thế giống VN10, Cườm…; hàng vô ngâm ủ đúng kỹ thuật, giao cho các đội sản xuất gieo vãi theo vùng tập trung, sau đã đội chia mạ cho xã viên cấy. - Đội làm phân: định mức lượng đạm, lân, ka ly, phân theo đầu sào để xã viên bón lúa và nghiệm thu khối lượng phân chuồng ở các hộ xã viên đưa ra ruộng chăm bón. - Đội bảo vệ thực vật (KHKT): điều tra, dự tính, dự báo sâu bệnh và có kế hoạch phòng trõ. Đồng thời Ban Quản lý Hợp tác xã giám sát chặt chẽ 3 khâu giao cho xã viên. Trong quá trình triển khai thực hiện công tác khoán, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương gặp không ít khó khăn: sự thay đổi của cơ chế quản lý, sự thay đổi về chính sách Giá - Lương - Tiền, nhất là sau cuộc đổi Tiền từ 14 – 18/9/1985; thời tiết diễn biến bất thường, nhất là cơn bão số 6 năm 1983. Tây Lương là xã nằm trong vùng tâm bão làm 4 người chết, 15 người bị thương, thiệt hại nặng nề về tài sản, nhà cửa, kho tàng, hoa mầu…. Mặc dù đứng trước nhiều khó khăn thử thách vượt qúa sức mình, song với quyết tâm cao, mỗi cán bộ, đảng viên đã Nêu cao tinh thần Tiền phong gương mẫu, vận động nhân dân vượt lên trên khó khăn nhằm thực hiện thắng lợi các nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXiê – XXIII. Vì vậy năng suất, sản lượng lúa không ngâng được nâng lên, năm sau cao hơn năm trước, nhất là năm 1984 là năm có năng suất lúa cao nhất từ trước đến thời điểm này, 78 tạ/ha, tăng hơn so với năm 1980 là 12,62 tạ/ha. Tổng sản lượng lương thực 2.802 tấn, tăng hơn so với năm 1980 là 311,5 tấn, là một trong 6 xã của huyện dẫn đầu về năng suất lúa(1), vượt môc tiêu Đại hội Đảng bộ lần thứ XXIII đề ra. Nhi năng suất lúa cao, sản lượng lương thực lớn, Tây Lương đã đóng góp nghĩa vô cho Nhà nước mỗi năm 518,6 tấn thúc. Chăn nuôi: đàn lợn ở cả hai khu vực tập thể và hộ gia đình nếu so với những năm 1981 – 1982 thì từ 1983 đến 1985 giảm. Tuy vậy, mỗi năm làm nghĩa vụ cho Nhà nước 75,3 tấn lợn hơi. Đàn gia cầm vẫn phát triển, bình quân mỗi năm đạt 8.120 kg, cá cho thu nhập 3.450 kg/năm. Cùng với đẩy mạnh thâm canh lúa, chăn nuôi gia súc, gia cầm và cá, mặc dự sản xuất vụ đông trong 3 năm (1983 – 1985) gặp thời tiết bất lợi, song cấp uỷ, chính quyền, Ban Quản lý Hợp tác xã nông nghiệp tích cực động viên nhân dân làm vô đông, nhất là mạnh dạn đưa cây lạc, thuốc lá vào sản xuất, tạo điều kiện Tiền đề cho nguồn hàng xuất khẩu trong những năm sau. Đồng thời với lãnh đạo, chỉ đạo phát triển sản xuất, Đảng bộ đã coi trọng, củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, quy vùng sản xuất: vùng trồng cây vô đông, vùng mạ… Đặc biệt, tổ chức và điều hành các đội chuyên: giống, thuỷ nông, làm phân bón… và để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhúm và người lao động, cấp uỷ đã thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các đội sản xuất, kịp thời uốn nắn và hạn chế mặt tiêu cực; khuyến khích, biểu dương mặt tích cực. Từ năm 1975 – 1985, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, sản xuất nông nghiệp của xã liên tục đạt được những kết quả quan trọng, Tây Lương trở thành một trong những xã dẫn đầu toàn huyện về năng suất lúa: 78 tạ/ha. Đạt được những kết quả như
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong III-2,3)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH :: Linh Tinh Khác :: Kiến Thức Tổng Hợp-
Chuyển đến