CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH

NƠI GẶP GỠ CÁC BẠN CÙNG KHÓA, CÙNG TRƯỜNG, CÙNG QUÊ VÀ CÁC THẦY CÔ TRÊN KHẮP MỌI MIỀN
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
May 2018
MonTueWedThuFriSatSun
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   
CalendarCalendar
Social bookmarking
Social bookmarking digg  Social bookmarking delicious  Social bookmarking reddit  Social bookmarking stumbleupon  Social bookmarking slashdot  Social bookmarking yahoo  Social bookmarking google  Social bookmarking blogmarks  Social bookmarking live      

Bookmark and share the address of CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH on your social bookmarking website
Top posting users this month
Most active topics
NGUYỄN NGỌC BẢO VÀ CỰU HỌC SINH K76-79 GẶP NHAU Ở SÀI GÒN
Chùm thơ Phan Sĩ Phú
gặp mặt thường niên 2013 tại Sóc Sơn
Gặp mặt kỷ niệm 35 năm ra trường K76-79 (16-11-2014) tại Trường
ĐÁM CƯỚI CON TRAI CỦA HƯƠNG LỚP G TẠI TP.HCM
Lễ Vu Quy Con Gái Anh Khoa (lớp C) ở Hà Nội
HÌNH ẢNH KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY RA TRƯỜNG HỘI CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 TRƯỜNG PT CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Mời các bạn cựu HS cấp III Tây Tiền Hải khóa 76-79 gặp gỡ tại Vĩnh Phúc
Truyện ngắn 100 chữ
DANH SÁCH CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Latest topics
» Chúc mừng năm mới
Thu Mar 24, 2016 9:36 pm by buitiendung

» Chào xuân Bính Thân
Wed Feb 03, 2016 10:26 pm by buitiendung

» Chia buồn với gia đình bạn Phan Quốc Sự
Wed Jan 20, 2016 11:23 am by phanquocsu

» Thông báo mới
Wed Jan 20, 2016 11:22 am by phanquocsu

» Danh sach G
Wed Dec 30, 2015 4:30 pm by phanquocsu

» Thông báo khẩn
Fri Nov 20, 2015 10:49 pm by buitiendung

» Thông báo mời gặp mặt K76-79 trường TT Hải Năm 2015
Tue Oct 06, 2015 10:44 pm by buitiendung

» Thân gửi các bạn!
Sun Sep 27, 2015 8:41 pm by buitiendung

» Kỷ niệm 30 năm ra trường Hội HS K76-79 Cấp 3 Tây Tiền Hải
Fri Aug 21, 2015 11:35 pm by buitiendung

Keywords
Poll
Statistics
Diễn Đàn hiện có 62 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: Mrgift

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 772 in 271 subjects

Share | 
 

 Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong III-1

Go down 
Tác giảThông điệp
buitiendung
Admin


Tổng số bài gửi : 158
Join date : 26/10/2012
Age : 55
Đến từ : Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong III-1   Thu Jul 04, 2013 10:46 pm

CHƯƠNG BA XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỮNG MẠNH, TÍCH CỰC CHI VIỆN CHO TỜỀN TUYẾN, VỪA SẢN XUẤT, VỪA CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI, CÙNG CẢ NƯỚC ĐÁNH THẮNG GiẶC MỸ XÂM LƯỢC (1965 – 1975)
I- PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HÓA – XÃ HỘI, XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỮNG MẠNH 1- Củng cố quan hệ sản xuất, tập trung phát triển kinh tế Những năm được sống trong hoà bình (1954 – 1964), nhân dân Tây Lương được làm chủ ruộng đồng và lần đầu tiên bước vào làm ăn tập thể, năng suất cây trồng, vật nuôi đều tăng cao. Những năm 1964 – 1965 đã đạt 4,7 – 5 tấn/ha hai vụ lúa. Cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kênh tế từng bước được khôi phục và đầu tư xây dựng, đời sống nhân dân từng bước được cải thờện, càng thêm tên tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ lựa chọn. Trong lúc Đảng bộ và nhân dân trong huyện nói chung, Tây Lương nói riêng đang nỗ lực thi đua thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) thì miền Bắc bị Mỹ đánh phá. Trước những diễn biến của tình hình và đứng trước nhiều khó khăn, ngay từ tháng 3/1965, nghị quyết hội nghị lần thứ 11 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xác định “nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng kiến thiết, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho miền Nam, xây dựng kinh tế phải phự hợp với tình hình cả nước có chiến tranh”. Triển khai thực hiện nghị quyết của Trung ương, ngày 18/5/1965 Tỉnh uỷ Thái Bình ra nghị quyết số 06 về chuyển hướng công tác theo tinh thần nghị quyết 11 của Trung ương và nhấn mạnh “bất kể tình huống nào cũng phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, tích cực xây dựng cơ sở vật chất có trọng điểm, tăng cường củng cố quan hệ sản xuất, kết hợp nhiệm vô trước mắt và lâu dài, nhằm đẩy mạnh xây dựng xã hội chủ nghĩa, đồng thời sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng”. Thực hiện các nghị quyết trên của Đảng, được sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ, Đảng bộ Tây Lương đã tập trung lãnh đạo phát triển kênh tế xã hội, trong đã nông nghiệp được xác định là mặt trận hàng đầu. Trong quá trình thực hiện nhiệm vô phát triển kênh tế, nhiệm vô trọng tâm lúc này là tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm để đảm bảo đời sống nhân dân, vừa tích cực chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Trước hết là đẩy mạnh cuộc vận động cải tiến quản lý Hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, phát triển sản xuất nông nghiệp theo tinh thần Chỉ thị số 107 (tháng 8/1965) của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Nhiệm vụ quan trọng của Tây Lương lúc này là tập trung mọi cố gắng chỉ đạo các Hợp tác xã nông nghiệp xây dựng được phương hướng sản xuất phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương, giải quyết tốt vấn đề quy mô Hợp tác xã, tiếp tục vận động nông dân vào Hợp tác xã, đưa quy mô Hợp tác xã tiến lên bậc cao. Các hợp tác xã vẫn thực hiện “ba khoán” cho đội sản xuất. Tuy nhiên, quy mô Hợp tác xã vẫn còn rất nhá bộ, phương thức sản xuất chưa rõ ràng, lúng túng, thu nhập của xã viên rất thấp, nhất là nhiều hộ chưa muốn vào Hợp tác xã(1).
Thực hiện sự chỉ đạo thống nhất của cấp uỷ trên cơ sở nghị quyết của Đảng bộ, đầu năm 1966 toàn xã xây dựng 4 Hợp tác xã cấp cao là:
- Thôn Thượng, thôn Hiên thành Hợp tác xã Đại Hoàng do đồng chí Nguyễn Văn Thệ làm Chủ nhiệm. - Hợp tác xã thôn Nghĩa do đồng chí Tô Ngọc Phiện làm Chủ nhiệm. - Hợp tác xã thôn Lương Phú do đồng chí Ngô Văn Nghiễn làm Chủ nhiệm. - Thôn Trung Đồng, Tam Đồng thành Hợp tác xã Trung Tam Đồng do đồng chí Nguyễn Hữu Vị làm Chủ nhiệm. Đặc điểm của Hợp tác xã cấp cao là không còn chế độ chia hoa lợi ruộng đất như trước, mọi công việc sản xuất được thực hiện theo chế độ khoán công điểm. Sản xuất đã có bước chuyển biến, tuy vậy, chăn nuôi chưa cân đối với trồng trọt. Một số trâu, bò thiếu sự chăm súc nên gầy yếu, số mua vào và số sinh sản ra không bị kịp số thải loại. Từ năm 1967, đã cơ giới hoá khâu làm đất được khoảng trên 20% diện tích nhưng số máy làm đất có hạn nên nhiều diện tích cấy muộn, hiệu quả thấp. Tính ra bình quân chi phí lao động cao, thời giá một tạ thúc năm 1967 là khoảng 23 đồng, trong đã chi phí hết 11 đồng và khoảng 18 công lao động (có Hợp tác xã còn chi phí cao hơn). Do sản xuất thu nhập bấp bênh, chăn nuôi tập thể có chiều hướng thua lỗ, nhiều xã viên không tha thiết với Hợp tác xã mà tập trung chăm lo cho kênh tế Phụ gia đình như “tận dụng vườn, ao, bi bãi… để sản xuất thêm hoặc chạy chợ, thậm chí có người gặt dối, Trục dối để mút lúa, nhặt thúc. Tệ rong công phúng điểm đã dẫn đến ngày công đạt thấp; thu chia phân phối không công bằng như người có mức lương thực thấp phải nhận thúc xấu, rạ xấu và chia sau. Tài sản của tập thể dần dà hư háng, mất mát, vốn quỹ sử dụng tuú tờện, tự thu tự chi tạo kẽ hở cho tệ tham ô, lợi dụng, lãng phí nảy sinh gây dư luận bức xúc trong nhân dân. Thực trạng nói trên ở Tây Lương cũng như ở nhiều nơi do nhiều nguyên nhân, tựu chung là tinh thần làm chủ, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, xã viên thấp; công tác quản lý láng lẻo, càng lên quy mô lớn, năng lực quản lý yếu kộm của đội ngũ cán bộ càng bộc lộ rõ hơn. Mặt khác, giai đoạn này ở Tây Lương phần lớn thanh Niên, đảng viên trẻ, kháe phải bổ sung cho quân đội, số còn lại ở địa phương trình độ văn húa thấp, năng lực bất cập trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ cách mạng. Vì thế, những yếu kém, tồn tại đã là khó tránh khái. Căn cứ vào điều kiện thực tiễn, Đảng bộ Tây Lương đã tập trung lãnh đạo cuộc vận động nông dân vào Hợp tác xã, đưa quy mô Hợp tác xã ngày càng lớn hơn. Do kiên trì vận động, số hộ tham gia Hợp tác xã tăng lên, quy mô Hợp tác xã lớn dần. Vì vậy, tháng 1/1967, toàn xã tổ chức thành 2 Hợp tác xã cao cấp: - Hợp tác xã Đại Hoàng gồm 3 thôn (thôn Thượng, thôn Hiên và thôn Nghĩa) do đồng chí Nguyễn Văn Thệ làm Chủ nhiệm, sau đã là đồng chí Nguyễn Văn Hạ làm Chủ nhiệm, có tổng số 430 hộ, 2.480 khẩu, 1.050 lao động với diện tích canh tác 212 ha. - Hợp tác xã Đồng Phú gồm 3 thôn (Lương Phú, Trung Đồng, Tam Đồng) do đồng chí Đặng Sở làm Chủ nhiệm, tiếp sau là đồng chí Vũ Đức thờểm làm Chủ nhiệm có tổng số 420 hộ, 3.520 khẩu, 1.020 lao động với diện tích canh tác 178 ha. Trên cơ sở đất đai, lao động hiện có, Đảng bộ chỉ đạo các Hợp tác xã đẩy mạnh thực hiện các biện pháp thâm canh, tăng vô, mở rộng diện tích cây mầu, diện tích trồng cói và ngành nghề: đan bao manh, đội thuỷ lợi chuyên do huyện giao kế hoạch…(1). Ngày 19/3/1970, Đại hội toàn thể Đảng bộ xã gồm 145 đảng viên tham dự đã xác định 3 mục tiêu cho nông nghiệp “6 tấn thúc, 2,2 con lợn, 1,3 lao động trên 1 ha gieo trồng; đưa chăn nuôi lên ngang với trồng trọt” với các chỉ tiêu cô thể: - Tổng diện tích gieo trồng: 1.228,7 mẫu = 445 ha + Khoai lang tăng vô: 95 mẫu (35,5 ha), sản lượng 771 tấn. + Cây cói (bãi Tam Đồng): 20 mẫu, sản lượng 14 tấn. + Võng, lạc: 10 mẫu (3,7 ha). - Tổng đàn gia súc, gia cầm: + Đàn trâu: 239 con. + Đàn lợn tập thể: 285 con. + Đàn vịt: 3.000 con. - Gạch 450.000 viên; vôi: 1.250 tấn. Để thực hiện môc tiêu trên, khâu phân bón được coi là khâu mũi nhọn, tạo cơ sở để tăng năng suất cây trồng. Nhu cầu đặt ra lúc này là ngoài bốo dâu, bựn khô, phân rác và đạm Sunfat, trọng lượng phân chuồng còn phải bón cho 1 mẫu từ 8 đến 10 tấn; đồng thời còn phải bón thêm vôi, lân mới tạo ra sự cân đối giữa các yếu tố N-P-K trong đất. Vì vậy, phong trào làm phân trong các gia đình xã viên và các đội sản xuất phát triển mạnh, nhất là phong trào làm bèo dâu cả mùa rét và mùa nóng phát triển. Tận dụng bi, bãi Hợp tác xã lên kế hoạch cho đội sản xuất bốc mô theo rạch lúa đã vào mẩy để bá hạt muồng, điền thanh làm phân xanh chỉ tiêu từ 10 - 15% diện tích. Ngoài ra một số gia đình xã viên tận dụng bi mương, bãi để trồng bán cho Hợp tác xã. Kết quả năng suất vụ chiêm năm 1970 đạt 56 tạ/ha, sản lượng lương thực quy thúc 2.247,8 tấn, trong đã sản lượng lúa đạt 2.212,5 tấn(1), bình quân lương thực đầu người 380 kg/năm. Trong những năm 1971 – 1975, thời tiết có năm diễn biến không thuận lợi, sâu bệnh phát triển mạnh nhưng năm 1973 do bão lôt nhiều nên năng suất và sản lượng lương thực giảm hơn năm 1972. Tuy nhiên, Tây Lương vẫn là địa phương đạt 6 tấn/ha, năm 1974 năng suất đạt trên 6 tấn/ha. Bình quân mức ăn trên đầu người, lượng lương thực làm nghĩa vô và bán giá cao cho Nhà nước ngày một tăng(2). Trong nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi là 2 ngành sản xuất chủ yếu quan hệ chặt chẽ với nhau. Chăn nuôi vừa đáp ứng nhu cầu về thực phẩm, vừa cung cấp sức kéo và phân bón đáp ứng yêu cầu thâm canh cây trồng. Trồng trọt phát triển tạo động lực để chăn nuôi phát triển. Nhận thức rõ vai trò “con trâu là đầu cơ nghiệp”, Đảng bộ coi trọng phát triển đàn trâu, bò và có chế độ khuyến khích những hộ chăn nuôi giái. Đàn trâu cày hàng năm có từ 230 đến 239 con, đàn bò 38 con. Tuy nhiên, do chăm súc chưa tốt nên trâu, bò bị chết và thải loại nhiều, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất nông nghiệp. Đàn lợn tập thể hàng năm có từ 300 đến 500 con, đàn lợn trong các hộ gia đình bình quân 1,8 con/hộ. Riêng năm 1970 sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 73 tấn, làm nghĩa vô cho Nhà nước 53 tấn (đạt 100% kế hoạch). Từ ngày toàn xã còn lại 2 Hợp tác xã cấp cao, nhất là từ khi có nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã (19/3/1970) do lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát và giành một phần lương thực cho chăn nuôi số đầu lợn tập thể ngày càng tăng như: Hợp tác xã Đồng Phú xây dựng khu chăn nuôi ở Trung Đồng trên cơ sở của trại chăn nuôi Trung Tam Đồng cũ, được mở rộng nâng cấp 4 dãy nhà với diện tích 5.000 m2, đưa tổng đàn lợn năm cao nhất 500 con. Hợp tác xã định mức khoán 5 kg thúc/1 kg tăng trọng. Do khuyến khích sản xuất đúng hướng, từ 1972 – 1975 trọng lượng xuất chuống đạt 68 – 70 kg/con, năm 1972 xuất chuồng 14 tấn lợn hơi. Từ năm 1973 – 1975 mỗi năm xuất chuồng từ 15,5 tấn đến 16 tấn lợn hơi. Hợp tác xã Đại Hoàng trên cơ sở mở rộng trại chăn nuôi thôn Thượng, hàng năm có từ 200 – 250 đầu lợn. Đối với các gia đình xã viên, hàng năm cũng được giao định mức mỗi lao động thực hiện nghĩa vô 30 kg lợn hơi. Vì vậy chăn nuôi lợn có xu hướng phát triển hơn trước. 1Đàn gia cầm (gà, vịt) có 11.240 con, sản lượng đạt 12.500 kg. Với diện tích 5,4 ha ao, hồ tập thể và hàng chục ha ao, đầm trong các hộ gia đình được đưa vào nuôi, thả cá, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thờện đời sống nhân dân. Chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm, cá trong nhữn năm 1965 – 1975 tuy đã có nhiều cố gắng song nhìn chung vẫn chưa cân đối với trồng trọt, tỷ trọng giá trị thu nhập của chăn nuôi còn thấp, chỉ tiêu 2,2 con lợn/ha gieo trồng không đạt được. Đàn lợn cả hai khu vực tập thể và hộ xã viên phát triển chậm, dẫn đến Hợp tác xã và gia đình xã viên chưa hoàn thành nghĩa vô thực phẩm đối với Nhà nước. Nguyên nhân là do nguồn thức ăn cho chăn nuôi chủ yếu bằng thúc nghiền bột, không đủ chất dinh dưỡng nên lợn chậm lớn, cũi cọc dẫn đến thua lỗ(1); trình độ quản lý của cán bộ Phụ trách chăn nuôi còn bất cập, Nhà nước chưa có chính sách khuyến khích đủ mạnh để kích thích chăn nuôi phát triển (ví như đầu tư giống, vốn, giá thu mua…) Các ngành nghề: làm gạch, nung vôi của Hợp tác xã mở rộng và đã sản xuất một lượng gạch, vôi đáng kể với 50 vạn viên gạch, 1.700 tấn vôi… phục vô kịp thời cho xây dựng các công trình thuỷ lợi, phúc lợi, một phần nhu cầu xây dựng của nhân dân. Nghề đan bao manh (2) (chủ yếu của Đại Hoàng), bốc vác: than, đá, lân, đạm, xi măng, tổ vận tải thuyền (cát, vôi, gạch)… đã tạo việc làm cho hàng trăm lao động có thu nhập ổn định. Cùng với Hợp tác xã cơ khí Tiền Tiến (lúc này đã chuyển địa điểm lên phố Tiểu Hoàng trực thuộc Phòng Công nghiệp huyện), tháng 2/1974 được sự chỉ đạo của Huyện uỷ, sự giúp đỡ của Liên hiệp Hợp tác xã thủ công nghiệp tỉnh, Đảng uỷ xã quyết định thành lập Hợp tác xã thủ công nghiệp ngành nghề: thờu, chiếu xe đan và bao manh xuất khẩu lấy tên là Hợp tác xã Đại Nghĩa do đồng chí Tô Ngọc Phiện - Uỷ viên Thường vụ - Phụ trách. Lúc đầu tuyển dụng 100 xã viên (thanh niên nam nữ người địa phương)(1). Do làm ăn có hiệu quả, lúc cao điểm số lao động lên đến 140 người. Tuy vậy, trong sản xuất thủ công nghiệp, ngành nghề còn một số yếu kộm là: giá trị sản phẩm thủ công nghiệp, ngành nghề còn thấp, sản xuất phát triển chậm. Hợp tác Đại Nghĩa sau khi hình thành và đi vào sản xuất, chất lượng còn hạn chế, giá thành cao. Mặc dù sản xuất tiểu thủ công nghiệp trong nông nghiệp phát triển khá mạnh nhưng không vững chắc và chưa tương xứng với tiềm năng của Tây Lương, lao động nông nhàn còn nhiều. Hợp tác xã mua bán của xã trong những năm chống Mỹ cứu nước thực sự trở thành người nội trợ trong sản xuất và đời sống ở cả 3 khu vực. Các hàng hóa thiết yếu và phục vụ đời sống dân sinh như cày, bừa, cuốc, xẻng, dầu thắp sáng, muối ăn, nước mắm… đã được chú ý khai thông, phục vụ kịp thời nhu cầu của nhân dân. Doanh số mua vào, bán ra hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch. Hợp tác xã tín dụng tích cực huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân, thực hiện cho vay vốn phát triển sản xuất. Số dư tiết kiệm năm 1972 bình quân đầu người trong toàn xã đạt trên 20 đồng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng còn một số tồn tại cần phải khắc phục, đã là: việc cho vay ngắn hạn chưa kịp thời, chưa tích cực thu hồi công nợ, nhất là công nợ của Hợp tác xã nông nghiệp nên số dư nợ còn tồn đọng. Mưườ năm phát triển kinh tế (1965 – 1975) trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhưng Đảng bộ và nhân dân Tây Lương cũng đã đạt được những thành tích rất đáng tự hào. Sản xuất nông nghiệp đã từng bước chuyển mô hình Hợp tác xã bậc thấp lên bậc cao; việc cải tiến hình thức khoán, hình thức phân phối đã có tác dụng kích thích người lao động tích cực sản xuất, gắn bó với Hợp tác xã hơn. Trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn (thiên tai, địch hoạ) sản xuất nông nghiệp đã phấn đấu đạt môc tiêu 5 tấn, 6 tấn, gần 7 tấn/ha 2 vụ lúa. Sản xuất thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề có bước phát triển mang tính đột phá đã góp phần quan trọng phá thế độc canh cây lúa, mở ra hướng mới cho nền kinh tế thuần nông của Tây Lương. Bởi vậy, lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển mạnh, quan hệ sản xuất từng bước được cải tiến, cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế từng bước được tăng cường phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế và đời sống nhân dân. Những kết quả bước đầu có ý nghĩa đã đã tạo Tiền đề cho sự phát triển bền vững ở những năm sau.
2- Phát triển văn húa – xã hội - Giáo dục: Từ năm 1965, do chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ngày càng ác liệt, trường lớp phải sơ tán xuống các thôn, xóm 7 (thôn Nghĩa), xóm 2 (thôn Thượng) nhi vào đình, chùa, nhà dân và làm lán. Đảng bộ, chính quyền đã huy động nhân dân đóng góp ngày công xây dựng lán học sơ tán, làm hầm kèo, đào hàng trăm hố cá nhân, giao thông hào để học sinh có đủ nơi ẩn nấp an toàn. Sau vô máy bay Mỹ oanh tạc trường cấp II Thụy Dân (Thụy Anh), để tránh giờ cao điểm, nhiều buổi phải học sáng sớm, chiều tối hoặc ban đêm, học sinh đi học phải đội mũ rơm. Trong điều kiện khó khăn như vậy, Đảng bộ xã quyết tâm chỉ đạo các trường hưởng ứng phong trào thờ đua “dạy tốt, học tốt”, nâng cao chất lượng giáo dục văn hoá và bảo vệ an toàn cho học sinh. Những năm học 1967 - 1975 hệ giáo dục phổ thông cấp i do thầy Tạ Xuân Tiếu làm hiệu trưởng, sỹ số học sinh qua các năm đều tăng, cao điểm lên tới 1.000 học sinh, chia làm 28 lớp, học sinh vì lòng 300 cháu chia làm 15 lớp. tỷ lệ thờ tốt nghiệp đạt từ 91 - 93,6%; nhà trường đạt danh hiệu tiên tiến và là trường trọng điểm xuất sắc của huyện, của tỉnh. Năm học 1973 – 1974 số học sinh cấp i tăng 5%, học sinh vì lòng đạt 95% số cháu trong độ tuổi đến lớp. Hệ giáo dục cấp iê được tổ chức khai giảng năm học mới đầu tiên vào ngày 05/9/1965 và từ năm 1965 - 1967 do thầy Lê Văn Áng làm hiệu trưởng, tiếp theo là thầy Tô Văn Lôa. Các năm 1967 - 1969 do thầy Trần Đại làm hiệu trưởng; các năm 1969 - 1972 thầy Nguyễn Văn Trô làm hiệu trưởng; năm 1973 thầy Nguyễn Văn Đam quyền hiệu trưởng, số học sinh là 500 em chia thành 12 lớp, năm cao điểm lên tới 541 em. Trong hoàn cảnh giặc Mỹ leo thang bắn phá miền bắc, thầy trò phải học sơ tán vào nhà dân và các lán tạm ở xóm 2, xóm 7. Song nhà trường luôn thực hiện nghiêm túc việc dạy chữ, dạy người, coi trọng chất lượng giáo dục toàn diện “ đức, trí, thể, mỹ”. Số học sinh cấp II tăng 10,5%, thi tốt nghiệp đạt 91,9% - 93,6%. Năm học 1970 – 1971, toàn xã có 15 lớp vỡ lòng với 600 cháu, 12 lớp cấp II gồm 541 học sinh. Thực hiện học đi đôi với hành, các nhà trường thực hiện nghiêm túc việc dạy chữ, dạy người, coi trọng chất lượng giáo dục toàn diện đức, trí, lao động, sức kháe… Học sinh đạt hạnh kiểm loại khá và tốt chiếm 93,4%, hạnh kiểm trung bình và yếu chỉ còn 6,6%. Cùng với phong trào dạy tốt, học tốt, học sinh trong xã còn có phong trào “nghìn việc tốt, “kế hoạch nhỏ”, “hợp tác xã măng non”… Quán triệt mục tiêu giáo dục toàn diện, nghiêm túc thực hiện phương châm “giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”, năm học 1971 – 1972 học sinh cấp I tham gia cắt cá khao trâu, học sinh cấp II làm phân xanh, lấy bùn, xếp ải, trồng cây lấy gỗ. Năm học 1974 – 1975, số học sinh phổ thông tăng 5% so với năm học 1973 – 1974, 95% số cháu trong độ tuổi vào học vì lòng, đạt tỷ lệ cao hơn năm trước. Và cùng trong năm này, trường cấp II do thầy Tô Công Tăng làm hiệu trưởng đạt danh hiệu tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa. Phong trào vở sạch chữ đẹp, thể dục vệ sinh, quản lý nề nếp trong các ngành học của xã có tiến bộ rõ rệt. Hàng năm xã có số học sinh tốt nghiệp cấp II thờ đỗ vào cấp III từ 38 đến 43% trở lên. Phong trào học bổ túc văn hóa được cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh Niên tham gia tích cực và đạt kết quả, góp phần nâng cao kiến thức và năng lực trong sản xuất, công tác. Tuy nhiên, do đội ngũ giáo viên được đào tạo từ nhiều nguồn nên trình độ chuyên môn không đồng đều. Tình trạng bỏ học của học sinh vẫn chưa được chấm dứt (cả cấp I và cấp II); chất lượng giáo dục toàn diện còn hạn chế, trong khi đã cơ sở vật chất phục vô cho dạy và học còn thiếu thốn, ảnh hưởng không nhá đến việc nâng cao chất lượng dạy và học cũng như duy trì số lượng. - Hoạt động y tế: Cuộc chiến tranh leo thang đánh phá miền Bắc của giặc Mỹ ngày càng trở nên ác Liệt, thực hiện sự chỉ đạo của huyện, xã Tây Lương xây dựng một tổ cấp cứu bố trí người trực thường xuyên sẵn sàng làm nhiệm vô. Tại Trạm xá xã được đào nhiều hố cá nhân, chuẩn bị các túi thuốc phòng không và bất cứ lúc nào, ở đâu xảy ra bắn phá, tổ cấp cứu nhanh chúng sơ cứu tại chỗ và kịp thời chuyển tuyến trên cứu chữa. Đến ngày 1/8/1973, Trạm xá mới được xây dựng tại xóm 2 (giáp đường 39B, cạnh Uỷ ban xã) gồm 2 dãy nhà 9 gian kiên cố, với tổng kênh phí 7.017 đồng và 1.546 ngày công do nhân dân đóng góp(1). Lúc này (năm 1973) ngoài bác sỹ trạm trưởng, trạm xá xã còn có 4 y tá, hộ sinh và 1 dược tá, ở mỗi xóm có 1 y tế viên. Thực hiện chủ trương không để xảy ra dịch bệnh, công tác tiêm chủng phòng dịch đã được tiến hành thường xuyên. Các cháu ở nhà trẻ được cán bộ y tế khám chữa bệnh định kì hàng tháng, hàng quý. Công tác tiêm chủng phòng bệnh cho các cháu ở trong nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, trường cấp I, cấp II đều đạt tỷ lệ 100%. Để nâng cao chất lượng phòng và chữa bệnh, Trạm xá xã đã kết hợp đông – Tây y theo hướng đẩy mạnh trồng và bảo quản, thu mua, chế biến thuốc Nam, trong đã Trạm xá xã lo việc bào chế thuốc Nam chữa bệnh kịp thời góp phần giải quyết khó khăn về tình hình khan hiếm thuốc và nhu cầu chữa bệnh của nhân dân trong xã. Hàng năm, Trạm xá xã phối hợp với Ban bảo vệ bà mẹ trẻ em huyện Tuyên truyền công tác sinh đẻ kế hoạch và tổ chức đăng ký quản lý thai nghộn cho số chị em Phụ nữ đang mang thai. Chị em đến Trạm xá xã sinh đẻ được khám và cấp thuốc điều kênh bổ huyết. Năm 1970 và năm 1971 có 47 Phụ nữ đến khám thai với 51 lần. Cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch được tỉnh phát động từ đầu những năm bảy mươi, song do một bộ phận nhân dân nhận thức còn hạn chế, công tác Tuyên truyền lại không thường xuyên nên tỷ lệ sinh còn cao, năm 1969 tỷ lệ sinh 3,17%, năm 1972 là 3,08%. - Các hoạt động văn hoá, thông tên - thể thao: Trong cuộc chiến ác Liệt, công tác văn húa, văn nghệ có vị trí vô cùng quan trọng nhằm khơi dậy truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, tập trung sức người, sức của hoàn thành nhiệm vô xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với nhiều hình thức phong phú công tác thông tên, Tuyên truyền của xã đã trở thanh nhịp cầu nối chuyển tải các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân. Năm 1970 cấp uỷ, chính quyền đã tập trung mọi cố gắng đầu tư xây dựng Đài Truyền thanh xã, hàng ngày tiếp âm Đài Truyền thanh tỉnh, Đài Tiếng nói Việt Nam, đưa tên tức đến tận hộ xã viên. Mỗi thôn, xóm đều xây dựng một số bảng tường và tận dụng tường nhà dân để kẻ vẽ khẩu hiệu. Ngoài ra, cấp uỷ còn chỉ đạo các trường cấp I, iê tổ chức cho học sinh cổ động nhân các ngày lễ lớn hoặc cho những nhiệm vô trọng tâm của địa phương như: Bầu cử HĐND các cấp, kỷ Nêệm ngày thành lập Đảng, thu thuế nông nghiệp, tuyển quân… Phong trào “tiếng hát át tiếng bom” phát triển sâu rộng, nhất là trên các công trường giao thông, thuỷ lợi, các hội nghị, các buổi tờễn đưa thanh Niên lên đường nhập ngũ. Nay ở các thôn trong xã có các tốp ca khóc chính trị thanh Niên, các đội văn nghệ quần chúng với nhiều tiết môc văn nghệ ca ngợi tinh thần lao động quên mình, hy sinh chiến đấu dòng cảm bảo vệ quê hương, tinh thần trách nhiệm của hậu phương đối với tiền tuyến.... nhiều tiết môc tự biên tự diễn biểu dương người tốt việc tốt... được đông đảo các tầng lớp nhân dân khen ngợi. Năm 1975, thực hiện chỉ thị số 214 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, quyết định số 56 của Hội đồng Chính phủ, thông tri số 56 của Tỉnh uỷ, được Huyện uỷ chỉ đạo, Ban Chấp hành Đảng bộ xã đã phát động phong trào “sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, phong trào thi đua thực hiện nếp sống mới… được cán bộ, đảng viên, nhân dân hưởng ứng tích cực, nhiều hủ tục lạc hậu được bài trõ, những thúi hư tật xấu trong đời sống giảm hẳn; phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng xã văn hóa kiểu mẫu được đẩy mạnh. Phong trào thể dục thể thao ngày càng được phát triển rộng khắp ở mọi nơi, mọi lứa tuổi trong các tầng lớp nhân dân. Đội bóng đá, bóng chuyền của xã được thành lập và thường xuyên tổ chức thờ đấu giữa các thôn khá sôi nổi, góp phần tạo không khí thi đua, phấn khởi trong đời sống và sản xuất.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong III-1
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH :: Linh Tinh Khác :: Kiến Thức Tổng Hợp-
Chuyển đến