CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH

NƠI GẶP GỠ CÁC BẠN CÙNG KHÓA, CÙNG TRƯỜNG, CÙNG QUÊ VÀ CÁC THẦY CÔ TRÊN KHẮP MỌI MIỀN
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
February 2018
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728    
CalendarCalendar
Social bookmarking
Social bookmarking digg  Social bookmarking delicious  Social bookmarking reddit  Social bookmarking stumbleupon  Social bookmarking slashdot  Social bookmarking yahoo  Social bookmarking google  Social bookmarking blogmarks  Social bookmarking live      

Bookmark and share the address of CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH on your social bookmarking website
Top posting users this month
Most active topics
NGUYỄN NGỌC BẢO VÀ CỰU HỌC SINH K76-79 GẶP NHAU Ở SÀI GÒN
Chùm thơ Phan Sĩ Phú
gặp mặt thường niên 2013 tại Sóc Sơn
Gặp mặt kỷ niệm 35 năm ra trường K76-79 (16-11-2014) tại Trường
ĐÁM CƯỚI CON TRAI CỦA HƯƠNG LỚP G TẠI TP.HCM
Lễ Vu Quy Con Gái Anh Khoa (lớp C) ở Hà Nội
HÌNH ẢNH KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY RA TRƯỜNG HỘI CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 TRƯỜNG PT CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Mời các bạn cựu HS cấp III Tây Tiền Hải khóa 76-79 gặp gỡ tại Vĩnh Phúc
Truyện ngắn 100 chữ
DANH SÁCH CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Latest topics
» Chúc mừng năm mới
Thu Mar 24, 2016 9:36 pm by buitiendung

» Chào xuân Bính Thân
Wed Feb 03, 2016 10:26 pm by buitiendung

» Chia buồn với gia đình bạn Phan Quốc Sự
Wed Jan 20, 2016 11:23 am by phanquocsu

» Thông báo mới
Wed Jan 20, 2016 11:22 am by phanquocsu

» Danh sach G
Wed Dec 30, 2015 4:30 pm by phanquocsu

» Thông báo khẩn
Fri Nov 20, 2015 10:49 pm by buitiendung

» Thông báo mời gặp mặt K76-79 trường TT Hải Năm 2015
Tue Oct 06, 2015 10:44 pm by buitiendung

» Thân gửi các bạn!
Sun Sep 27, 2015 8:41 pm by buitiendung

» Kỷ niệm 30 năm ra trường Hội HS K76-79 Cấp 3 Tây Tiền Hải
Fri Aug 21, 2015 11:35 pm by buitiendung

Keywords
Poll
Statistics
Diễn Đàn hiện có 62 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: Mrgift

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 772 in 271 subjects

Share | 
 

 Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong II-2,3)

Go down 
Tác giảThông điệp
buitiendung
Admin


Tổng số bài gửi : 158
Join date : 26/10/2012
Age : 55
Đến từ : Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong II-2,3)   Thu Jul 04, 2013 10:42 pm

II- THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 3 NĂM CẢI TẠO XÃ HỘi CHỦ NGHĨA VÀ BƯỚC ĐẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI (1958 - 1960) Trong Lời chúc mừng năm mới, ngày 1/1/1958 (năm Mậu Tuất), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “... miền Bắc tiến lên Chủ nghĩa xã hội ... phát triển kinh tế và văn hóa tức là dần dần xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Xây dựng Chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài”(1). Bước vào năm 1958, năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa, huyện Tiền Hải nói chung, xã Tây Lương nói riêng có nhiều thuận lợi căn bản. Bộ máy lãnh đạo từ xã xuống các thôn, xóm được củng cố, cán bộ, đảng viên đã trải qua rốn luyện, thử thách, nhận thức về chính trị, tư tưởng được nâng lên. Đời sống của các tầng lớp nhân dân đã có bước cải thiện đáng kể. Tuy vậy, sản xuất chưa phát triển, nền kinh tế cơ bản vẫn là nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, năng suất lao động thấp. Phương thức sản xuất cá thể vẫn chưa thay đổi. Thành phần kênh tế địa chủ phong kiến tuy đã bị xúa bá song kinh tế tập thể còn non yếu. Trước thực trạng đó, dưới ánh sáng nghị quyết hội nghị lần thứ 14 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh, của Huyện, Đảng uỷ đã quán triệt đến cán bộ, đảng viên và nhân dân “nhiệm vụ trọng tâm cải tạo xã hội chủ nghĩa là đẩy mạnh hợp tác hoá nông nghiệp”(1), “Chỉ đi theo con đường tập thể hoá mới khắc phục được những khó khăn trong sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân”(2). Từ đã mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải tập trung đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, đưa phong trào tổ đổi công đi lên hợp tác xã nông nghiệp. Để hiện thực hoá các quan điểm của các nghị quyết Trung ương vào điều kiện địa phương, Đảng uỷ tổ chức các hội nghị gồm các đồng chí cán bộ cốt cán, Ban Chấp hành các đoàn thể Thanh Niên, Phụ nữ, Nông hội bàn bạc, xây dựng kế hoạch, tìm ra những biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn trước mắt để thực hiện. Các thôn trong xã dấy lên khí thế thờ đua sôi nổi thực hiện làm thuỷ lợi, cấy tăng diện tích, bắt sâu, diệt chuột... Tuy vậy, do thiên tai, hạn hán nặng nên vô chiêm năm 1958 năng suất lúa thấp. Thực hiện phương châm “lấy Mùa bự chiêm” Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo, thường xuyên đi sát thực tế chỉ đạo cô thể, động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân đẩy mạnh sản xuất, chủ động cấy kịp thời vô, cấy đúng kỹ thuật, tích cực phòng trừ sâu bệnh... Vì thế sản xuất vô mùa tăng cả diện tích và năng suất, tổng sản lượng thóc cả năm 1958 cao hơn năm 1957. Mặc dự thời tiết khắc nghiệt nhưng cây mầu, cây lương thực vẫn đạt kết quả khá. Trong lãnh đạo, chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, Đảng bộ xã xác định phải gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng tổ đổi công. Ở hầu hết các thôn xóm trên địa bàn xã đều rộ lên phong trào xây dựng tổ đổi công, nhiều tổ đổi công lần lượt ra đời với các hình thức đổi công từng vụ, từng việc như bẩy ải, cuốc ruộng, vận chuyển phân bón, kéo bừa thay trâu, cấy, gặt... Nhiều tổ đổi công vay vốn ngân hàng mua trâu cùng chăn dắt, cày bừa. Tổ ít có từ 3 đến 5 hộ, tổ nhiều có tới 7 hộ. Chỉ trong một thời gian ngắn (cuối năm 1958) toàn xã đã có 40 tổ đổi công gồm 245 hộ, chiếm 14,5 %, trong đã đảng viên giữ vai trò lãnh đạo và là lực lượng nòng cốt. Từ khi tổ đổi công phát triển, khí thế lao động trên đồng ruộng trở lên sôi động, có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển. Thông qua phong trào tổ đổi công đã tạo ra nếp sống mới, lối làm ăn mới mang tính tập thể theo nguyên tắc tự nguyện đã phát huy được tính hơn hẳn của sức mạnh làm ăn tập thể, khởi đầu cho phong trào hợp tác hóa. Tuy nhiên, phong trào xây dựng tổ đổi công ở Tây Lương lúc này vẫn còn bộc lộ những tồn tại là: có Ban Chi uỷ, đoàn thể còn lúng túng trong việc xây dựng, củng cố tổ đổi công, chưa xác định rõ hình thức quản lý và phương thức hoạt động. Quán triệt những quan điểm cơ bản Chỉ thị 14 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ Thái Bình, được sự chỉ đạo của Huyện uỷ, xã Tây Lương Từng bước nâng các tổ đổi công làm ăn có hiệu quả phát triển lên hợp tác xã theo nguyên tắc tự nguyện, quản lý dân chủ, cùng có lợi. Trong quá trình thực hiện đường lối chung đã, không thể một sớm một chiều đã làm thay đổi hẳn tư tưởng tư hữu vốn có của người nông dân. Bởi vậy ruộng đất là tư liệu sản xuất mà người nông dân coi như máu thịt của mình nay lại đem ra góp chung, lao động chung và quản lý chung nên dễ có thể sinh ra so đo thiệt hơn. Đã là cuộc đấu tranh tư tưởng gay go, phức tạp giữa hai con đường không chỉ ở nông dân mà ngay cả trong cán bộ, đảng viên. Để từng bước giải toả những khó khăn, vướng mắc không dễ đã, Ban Chấp hành Đảng bộ xã tập trung đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng và xem đây là nhiệm vụ quan trọng. Cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể của xã tổ chức nhiều hội nghị gồm các thành phần Ban Chi uỷ, đảng viên, cán bộ các đoàn thể học tập chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Dựa vào các đoàn thể quần chúng, lấy Nông hội làm lực lượng nũng cốt đảm nhận vai trũ tuyên truyền vận động quần chúng; cán bộ, đảng viên đã thường xuyên học tập, sinh hoạt với quần chúng, nhất là các tổ đổi công. Từ đã nhân dân trong xã ngày càng hiểu rõ hơn môc đích, ý nghĩa xây dựng Hợp tác xã là một bước làm thay đổi cơ bản từ phương thức lao động, làm ăn riêng lẻ, rời rạc sang quản lý điều hành thống nhất, chặt chẽ, mọi người cùng làm, cùng hưởng theo lợi ích của mình làm ra. Được nhân dân đồng tình hưởng ứng, Đảng uỷ quyết định chọn thôn Hiên xây dựng Hợp tác xã thí điểm. Ngay từ năm 1949, trước khi thực dân Pháp đánh chiếm Thái Bình, tổ Đảng ở đây đã mạnh dạn đứng ra tổ chức hợp tác xã do đồng chí Bùi Văn Nhĩ, Nguyễn Khinh, Tô Hệ lãnh đạo, gồm có 24 gia đình tham gia. Nhưng do thiếu kinh nghiệm và chiến tranh ập đến nên tự giải thể. Đến nay (đầu năm 1958) Đảng uỷ phân công đồng chí Bùi Văn Nhĩ cùng tổ Đảng xóm Việt Tiến vận động bà con nông dân thành lập Hợp tác xã thí điểm trên cơ sở tổ đổi công chuyển lên. Lúc đầu có 22 hộ tham gia và đồng chí Bùi Văn Nhĩ được bà con tín nhiệm bầu làm Chủ nhiệm Hợp tác xã. Với ý chí, nghị lực và tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, trước nhân dân, các đồng chí đảng viên trong tổ Đảng hạ quyết tâm “Hợp tác xã phải hơn hẳn cá thể”. Để tăng năng suất lúa, bà con xã viên Hợp tác xã Việt Tiến thực hiện cày sâu, bâa kỹ, cấy đúng thời vụ; đảng viên gương mẫu đi đầu và vận động xã viên tích cực làm phân bón lúa. Kết qủa năng suất cao hơn hẳn những gia đình chưa vào Hợp tác xã có ruộng liền kề. Trước những kết quả ban đầu đã, bà con xã viên Hợp tác xã Việt Tiến phấn khởi, tin tưởng vào con đường làm ăn tập thể do Đảng lãnh đạo. Hợp tác xã Việt Tiến không chỉ là điểm sáng để nhân dân trong xã noi theo thực hiện mà còn trở thành Hợp tác xã điểm của huyện được nhiều nơi học tập. Từ Hợp tác xã thí điểm Việt Tiến, cuối năm 1958, xóm Lê Lợi (thôn Nghĩa) do đồng chí Bùi Sắt - Bí thư Đảng uỷ - trực tiếp chỉ đạo cùng tổ Đảng vận động nông dân thành lập Hợp tác xã, lúc đầu có 16 hộ hầu hết là các gia đình đảng viên và một số gia đình hăng hái tham gia, do đồng chí Tô Ngọc Yêm làm Chủ nhiệm đã tạo được sự quan tâm, tin tưởng của bà con trong thôn. Sự thành lập hai Hợp tác xã bậc thấp Việt Tiến và Lê Lợi đã tạo Tiền đề cho sự phát triển của phong trào Hợp tác xã trong toàn xã. Năm 1959, thôn Tam Đồng có hai xãm đều đồng loạt thành lập Hợp tác xã theo quy mô xóm là: xóm Đông Hải có 27 hộ tham gia do đồng chí Đặng Khiên làm Chủ nhiệm; xóm Tây Sơn có 23 hộ tham gia do đồng chí Trần Tiềm làm Chủ nhiệm. Tỷ lệ hộ của hai xóm vào Hợp tác xã ngay từ khi phát động đạt 40%. Thôn Trung Đồng có 3 xãm cũng đồng thời tổ chức Hợp tác xã: xóm Trung Tiến do đồng chí Nguyễn Hữu Vỵ làm Chủ nhiệm; xóm Nhượng Bạn do đồng chí Hoàng Văn Thành làm Chủ nhiệm; xóm Hoàn Khê do đồng chí Nguyễn Văn Đồn làm Chủ nhiệm. Đáng chú ý là ngay từ khi phát động, thôn Trung Đồng đã có 95% số hộ tham gia. Ở thôn Hiên, cùng với Hợp tác xã Việt Tiến, cuối năm 1959 xóm Việt Thắng cũng thành lập Hợp tác xã, lúc đầu có 21 hộ tham gia, do đồng chí Tô Đình Huyên làm Chủ nhiệm. Tại thôn Nghĩa, Hợp tác xã Lê Lợi vẫn duy trì và phát triển, đã có 50 hộ tham gia, đạt tỷ lệ 65%, đồng thời xây dựng Hợp tác xã Quang Trung với 28 hộ, do đồng chí Hoàng Văn Đấu làm Chủ nhiệm. Tháng 9/1959 xóm Đề Thám thành lập hợp tác xã có 25 hộ tham gia do đồng chí Nguyễn Văn Ngác làm chủ nhiệm. Cũng tháng 9/1959, thôn Lương Phú thành lập 3 hợp tác xã, các đồng chí Vũ Văn Giím chủ nhiệm hợp tác xã xóm Trưng Trắc, đồng chí Tạ Ngọc Uyển chủ nhiệm hợp tác xã xóm Ái Quốc, đồng chí Ngô Duy Thạo chủ nhiệm họp tác xã xóm Ngô Quyền. Thôn Thượng thành lập 4 hợp tác xã: đồng chí Nguyễn Châm chủ nhiệm hợp tác xóm Nam Tiến, đồng chí Tô Văn Cố chủ Nhiệm hợp tác xã xóm Tây Tiến, đồng chí Hoàng Văn Căn chủ nhiệm hợp tác xã xóm Bắc Hồng, đồng chí Tô Văn Mẩu chủ nhiệm hợp tác xã xóm Đông Tiến. Chỉ tính trong 2 năm (1958 - 1959) cùng với phong trào tổ đổi công, phong trào Hợp tác xã diễn ra khẩn trương, thu hút sự quan tâm của nhân dân trong xã, trong đã vai trũ lãnh đạo của tổ chức Đảng, đảng viên được phát huy hơn bao giờ hết. Từ một Hợp tác xã Việt Tiến (thôn Hiên) được thành lập đầu năm 1958, đến cuối năm 1959 đã có 17 Hợp tác xã bậc thấp gồm hơn 500 hộ. Nhiều Hợp tác xã đã tá rõ vai trũ sức mạnh của con đường làm ăn tập thể; có Hợp tác xã đạt năng suất lúa bình quân từ 65 - 70 kg/sào/vụ, các xóm trong toàn xã đều xây dựng được hợp tác xã, không còn xóm trắng; điển hình là các Hợp tác xã Việt Tiến, Việt Thắng (thôn Hiên), Lê Lợi (thôn Nghĩa)... Cuối năm 1960 là năm cuối cùng của kế hoạch 3 năm, toàn xã đã có 17 Hợp tác xã bậc thấp theo mô hình xóm, với khoảng 70% số hộ nông dân vào Hợp tác xã, trong đã có 2 Hợp tác xã Việt Tiến, Việt Thắng (thôn Hiên) chuẩn bị hợp nhất thành Hợp tác xã bậc cao. Sau 3 năm xây dựng, nhìn chung phong trào Hợp tác xã nông nghiệp trong xã đã diễn ra nhanh, mạnh, đúng hướng và bước đầu đạt được kết quả tốt. Phần lớn nông dân các thôn trong xã phấn khởi, tự nguyện xin gia nhập Hợp tác xã, đồng thời có ý thức xây dựng và bảo vệ Hợp tác xã. Thực tiễn sinh động đã chứng minh rằng đường lối lãnh đạo của Đảng là đúng đắn, nên đã được nhân dân tên tưởng và hưởng ứng tích cực. Tuy nhiên, trong quá trình tuyên truyền, vận động xây dựng Hợp tác xã, cấp uỷ, chính quyền vẫn còn bộc lộ những yếu kộm tồn tại. Cán bộ, đảng viên ở một số thôn chưa kịp thời, chủ động làm tốt công tác Tuyên truyền, vận động quần chúng, chưa quán triệt sâu sắc môc đích, ý nghĩa của việc xây dựng Hợp tác xã. Xây dựng Hợp tác xã là đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể, để từ đã từng bước làm thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, năng suất thấp là việc làm mới mẻ, nhiều khó khăn, phức tạp, khó tránh khái những lúng túng, nhất là trong quản lý, điều hành sản xuất. Nhưng việc bồi dưỡng, đào tạo nâng cao phẩm chất chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ Hợp tác xã chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đú, một số cán bộ trong Ban Quản trị Hợp tác xã yếu kộm về năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vô, do vậy chưa khuyến khích được bà con xã viên đẩy mạnh việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất dẫn đến năng suất thấp, đời sống nhân dân chậm được cải thiện nên một số xã viên thiếu an tâm, thậm chí có người xin ra Hợp tác xã. Thực tiễn trong những năm xây dựng tổ đổi công và Hợp tác xã nông nghiệp ở Tây Lương đã khẳng định mặc dự còn có những khuyết điểm, yếu kộm nhưng tổ đổi công và Hợp tác xã đã thể hiện tính ưu việt của sức mạnh làm ăn tập thể. Cũng như phương thức lao động này, nhiều khó khăn trở ngại trong các khâu thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng, cải tiến kỹ thuật, chống thiên tai, dịch bệnh... được sức mạnh tập thể khắc phục kịp thời và có hiệu quả. Những thắng lợi bước đầu của phong trào đổi công, Hợp tác xã đã góp phần làm cho không khí nông dân, nông thôn dần dần thay đổi tích cực, tạo nên những chuyển biến về kênh tế - xã hội và khẳng định tính ưu việt của chế độ mới. Cùng với việc vận động đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể, được sự chỉ đạo của Huyện uỷ Tiền Hải, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng nắm vững “ba ngọn cờ hồng” (Hợp tác xã nông nghiệp, Hợp tác xã mua bán, Hợp tác xã tín dụng) đưa nông thôn tiến lên chủ nghĩa xã hội là công việc rất mới mẻ, không ít khó khăn. Cấp uỷ và chính quyền xã đã tập trung lãnh đạo, tạo nên những điều kiện cần thiết để 3 ngọn cờ hồng tác động lẫn nhau cùng phát triển. Tháng 10/1958, Ban Chấp hành Đảng bộ triển khai kế hoạch và ra nghị quyết thành lập Hợp tác xã “vay mượn” và đề cử đồng chí Tô Ngọc Yêm làm Chủ nhiệm, đồng chí Hoàng Khắc Tuất làm thủ quỹ, ông Bùi Thế Truyền làm kế toán và cử mỗi thôn một cán bộ phong trào nằm trong Ban Quản trị Hợp tác xã. Đồng thời tổ chức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã học tập điều lệ Hợp tác xã “vay mượn” chỉ sau 3 tháng (từ tháng 10 đến tháng 12/1958) tổ chức tuyên truyền, vận động gần như 100% số hộ nông dân là xã viên Hợp tác xã nông nghiệp đăng ký và trở thành xã viên Hợp tác xã “vay mượn”. Theo điều lệ, xã viên đại diện chủ hộ gia đình góp cổ phần 3 đồng và 3 hào lệ phí(1). Đầu năm 1959, Đại hội đầu tiên Hợp tác xã vay mượn xã Tây Lương, đồng chí Tô Ngọc Yêm được bầu làm Chủ nhiệm Hợp tác xã vay mượn đi vào hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Chấp hành Đảng bộ, đã tạo động lực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Đồng thời với Hợp tác xã vay mượn, Hợp tác xã mua bán của xã cũng được thành lập (cuối năm 1958) do đồng chí Đặng Khiên phụ trách. Cơ sở vật chất lúc đầu còn rất khó khăn với 3 gian nhà tre lợp rạ trên nền đất mượn của cô Phàn (thôn Nghĩa - cạnh đường 39B), làm quầy hàng. Hàng hoá phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân là những vật dụng thiết yếu như cuốc, xẻng, bát, đĩa, Lưỡi cày, giấy, bót mực, kêm, chỉ, khăn tay... Thắng lợi bước đầu của việc thực hiện 3 ngọn cờ hồng có ý nghĩa quyết định đối với việc chuyển biến căn bản để đưa nông dân, nông thôn đẩy mạnh sản xuất góp phần thu hẹp diện thiếu đói, làm tiền đề phát triển kinh tế - xã hội trong những năm sau. Song song với nhiệm vô phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, Đảng bộ luôn coi trọng việc nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể sau khi được quán triệt học tập đường lối, môc đích nhiệm vụ của giáo dục đã xác định triệt để thanh toán mự chữ là nhiệm vụ quan trọng, vì vậy cán bộ, đảng viên đều phải đóng góp công sức, trí tuệ cùng toàn dân xây dựng và phát triển nền giáo dục. Ngay từ đầu năm 1953, giặc Pháp rút khái bốt Trà Lý vùng tự do được mở rộng, hệ thống giáo dục nhanh chống được khôi phục, đội ngũ giáo viên dựa vào các thày hương sư, tư thôc và một số người có trình độ văn hoá tự nguyện ra làm việc, còn trường lớp dựa vào nhà dân, đình và chùacủa các thôn, số học sinh theo học khá đông. Năm 1954 vẫn còn là xã Hưng Đạo, nhưng chỉ tính riêng các thôn thuộc xã Tây Lương ngày nay gồm: thôn Thượng, thôn Hiên, thôn Nghĩa đã tổ chức được 3 lớp gháp 1+2 và 2 lớp 3, một lớp 4 với số học sinh là 234; khu vực Lương Phú, Trung Đồng, Tam Đồng tổ chức đựoc 5 lớp học từ lớp 1 đến lớp 4 với số học sinh là 257 và 3 lớp vỡ lòng, toàn xã có 11 lớp số học sinh là 491. Các thày Vũ Quang huy, Nguyễn Viễn, Nguyễn Đô, Hoàng Ngọc Khảm, Nguyễn Ngọc Sánh, Phan Kêm, Đặng La, do thày Lê Văn Áng làm hiệu trưởng. Năm 1955, số lớp tăng lên 12 số học sinh là 559 do thày Vũ Quang Huy làm hiệu trưởng. Những năm học từ 1956 - 1958 số lớp và số học sinh giữ nguyên do thày Trần Văn Thuú (Đông cơ) làm hiệu trưởng. Từ năm 1958 - 1961 thày Lâm Văn Mãng (Tây An) làm hiệu trưởng. Hệ học sinh vì lòng được tổ chức mỗi thôn một lớp, mỗi lớp từ 30 - 35 em, đội ngũ giáo viên được đào tạo tại chỗ do ông Bùi Văn Bân Phụ trách. Năm 1958 là năm cuối thực hiện xong kế hoạch 3 năm của Đảng, Chính phủ về xúa xong nạn mù chữ cho toàn dân, Ban Chấp hành Đảng bộ, các đoàn thể của xã tập trung cho chiến dịch diệt “giặc dốt”. Đến tháng 10/1958, Tây Lương đã căn bản xoá xong nạn mù chữ cho độ tuổi từ 12 đến 50. Phong trào bổ túc văn hóa diễn ra sôi nổi, số học viên qua các năm đều tăng. Năm 1958 có 200 học viên, năm 1960 tăng 400 học viên, do các thày cô giáo ở trường phổ thông đảm nhiệm, xã cử ông Nguyễn Chí Công phụ trách. Về học phí học sinh từ lớp 1 - lớp 4 đóng góp theo mùa vụ ( 6 tháng từ 10 - 15 kg thóc/vụ), giáo viên dạy bán cấp được hưởng từ 50 - 70 kg thúc, giáo viên dạy toàn cấp được hưởng từ 60 - 80 kg thóc, giáo viên bổ túc văn hoá được hưởng từ 30 - 50 kg thóc/vụ. Học sinh vỡ lòng không phải đóng góp học phí, giáo viên vỡ lòng do Hợp tác xã nông nghiệp bao cấp. Đầu năm 1958, sau khi ổn định địa giới hành chính xã, nhất là sau thắng lợi của cải cách ruộng đất, cấp uỷ Đảng, chính quyền đã động viên, khuyến khích một số anh chị em có tâm huyết xây dựng cơ sở y tế phục vô nhân dân địa phương, trong đã khu vực Đại Hoàng gồm các ông, bà ông Nguyễn Văn Điền, Nguyễn Văn Đại, Hoàng Ngọc Hiển, bà Tô Thị Rốm do ông Nguyễn Văn Đại phụ trách, cơ sở đặt tại khu trường học cũ (thôn Thượng); khu vực Lương Phú do đông Nguyễn Văn Lân và bà Vũ Thị Bót phụ trách. Cơ sở vạt chất còn rất nghèo nàn với 3 gian nhà tạm cạnh cống Tam Đồng, dụng cô y tế là của cá nhân, nhiệm vô thường làm là thăm khám bệnh và đỡ đẻ. Tuy vậy, với phương châm phòng bệnh là chính, cán bộ làm công tác y tế đã tuyên truyền giáo dục nhân dân nâng cao ý thức chủ động phòng chống các dịch bệnh nhất là phong trào chống bệnh đau mắt hột của ty y tế Thái bình phát động năm 1958, các thôn xóm tận dụng gạch ở các đình, chùa xây giếng nước sạch như thôn thượng 13 giếng, thôn hiên 4 giếng, thôn Lương Phú xây 4 giếng, thôn Nghĩa 2 giếng, thôn trung đồng 2 giếng. Vì vậy, nhân dân ở các thôn, xóm, khu dân cư thi đua thực hiện phong trào “sạch làng tốt ruộng”, ăn ở hợp vệ sinh, các dịch sốt xuất huyết, tả, cúm... không có điều kiện bùng phát, sức khỏe nhân dân đảm bảo, tuổi thọ bình quân của nhân dân tăng dần. Phong trào văn hóa, văn nghệ trong nhân dân từng bước được đẩy mạnh, thôn nào cũng có đội văn nghệ hoạt động sôi nổi, nhất là thôn Nghĩa, thôn Lương Phú, nòng cốt là đoàn viên thanh Niên(2). Nhiều tiết mục chèo, kịch, ca hát... được dàn dựng, tập luyện công phu, được biểu diễn đã thu hút được đông đảo người xem, góp phần Tuyên truyền giáo dục đường lối, chính sách của Đảng và động viên toàn dân xây dựng nếp sống mới. Việc giữ gìn an Ninh trật tự, thực hiện chính sách hậu phương quân đội được cấp uỷ, chính quyền chỉ đạo và đảm bảo tốt. Lực lượng dân quân tự vệ xã tiếp tục được củng cố, tăng cường đủ sức ngăn chặn và xử lý những hoạt động chống phá cách mạng của bọn phản động, góp phần giữ gìn cuộc sống bình yên cho nhân dân. Dân quân được kiểm tra, phân loại, tập luyện, thường xuyên tuần tra canh gác với tinh thần sẵn sàng thực hiện nhiệm vô được giao. Hàng năm có hàng chục thanh Niên xung phong tòng quân. Năm 1959 là năm thờ hành luật nghĩa vô bảo vệ Tổ quốc, Đảng bộ đã làm tốt công tác Tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về luật chuyển đổi từ chế độ tình nguyện sang chế độ nghĩa vô quân sự, số thanh Niên tham gia khám tuyển theo Luật nghĩa vụ quân sự là 115, trong đã số trúng tuyển gọi nhập ngũ là 13 đồng chí . Là Đảng bộ có số đảng viên khá đông (trên 70 đồng chí), đại bộ phận đảng viên hăng hái, tiên phong trong phong trào lao động sản xuất và xây dựng Hợp tác xã; tuy nhiên, số ít chưa thực sự gương mẫu, có đồng chí còn vi phạm kỷ luật. Để kịp thời khắc phục những hạn chế đã, cấp uỷ Đảng đã mở nhiều đợt sinh hoạt chính trị nhằm giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, nhất là học tập, quán triệt các nghị quyết 14, 16 của Trung ương về chỉnh huấn chính trị trong Đảng; đồng thời chỉ đạo cho các Chi bộ kiện toàn Ban Chi uỷ. Từ đã nhận thức chính trị của đảng viên được nâng lên, sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ Đảng cũng như vai trũ lãnh đạo của tổ chức Đảng được tăng cường. Công tác phát triển đảng viên mới được Đảng bộ coi trọng, nhiều quần chúng ưu tú đã được rốn luyện, thử thách trong các phong trào thờ đua, nhất là phong trào xây dựng tổ đổi công, Hợp tác xã được đi dự các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng và được xột kết nạp vào Đảng. Trong đợt vận động phát triển đảng viên mới, ngày 06 tháng 01 lập thành tích kỷ Nêệm 30 năm thành lập Đảng Lao động Việt Nam(1), Đảng bộ đã kết nạp được 6 đảng viên mới. Tháng 10/1960, Đảng bộ xã tiến hành Đại hội toàn thể lần thứ yếu, có 73 đảng viên tham dự. Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế, văn hóa (1958 – 1960), đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cho năm 1961 và kế hoạch 5 năm 1961 – 1965. Đại hội đã khẳng định những kết quả đạt được trên lĩnh vực phát triển kinh tế, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được hình thành và phát huy tác dụng; các mặt văn hóa – xã hội được nâng lên, quốc phòng an ninh được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân có nhiều tiến bộ. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ mới gồm 14 đồng chí. Đồng chí Bùi Sắt được điều động lên Ban Tổ chức Huyện uỷ, đồng chí Nguyễn Văn Thái được điều đi nhận công tác tại Ty giao thông Thái Bình. Đồng chí Nguyễn Văn Điều – Phú Bí thư – tái cử Đảng uỷ mới, giữ chức Bí thư Đảng bộ kiêm Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã. Trong công tác xây dựng chính quyền và các đoàn thể quần chúng, vai trũ lãnh đạo của Đảng bộ thường xuyên được tăng cường. Trong cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh, xã vào đầu năm 1959 và bầu cử Quốc hội khóa IV ngày 8/5/1960, do lãnh đạo, chỉ đạo sát sao và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân nên đã thu được kết quả tốt, dân chủ trong Đảng, trong nhân dân được phát huy, toàn xã đã có 98,7% cử tri đi bá phiếu. Sau khi Uỷ ban hành chính xã được kiện toàn, hiệu lực điều hành của chính quyền được nâng lên một bước. Các đoàn thể nhân dân (Đoàn Thanh Niên, Hội Phụ nữ, Nông hội) luôn luôn là lực lượng nũng cốt trong phong trào xây dựng và củng cố Hợp tác xã. Nội dung, phương thức hoạt động đã có nhiều đổi mới, thu hút ngày càng đông đảo đoàn viên, hội viên tham gia góp phần đẩy mạnh phát triển sản xuất, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.

III- THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT (1961 – 1965) Năm 1961, năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960), nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh (2/1961) và nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tiền Hải (24/12/1960), nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Tây Lương lần thứ iê (10/1960) đã xác định “ra sức phát triển nông nghiệp một cách toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, lấy sản xuất lương thực làm chính, đồng thời tích cực mở rộng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương, đẩy mạnh giao lưu hàng húa, Từng bước ổn định và cải thờện đời sống nhân dân. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, mở rộng việc thống nhất các hợp tác xã nhá thành hợp tác xã lớn, đưa một bộ phận hợp tác xã bậc thấp lên hợp tác xã bậc cao, củng cố và phát huy tác dụng của quan hệ sản xuất mới, chủ động làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác quản lý điều hành trong các hợp tác xã. Phát triển xã viên: vận động hộ nông dân còn làm ăn riêng lẻ vào Hợp tác xã. Củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, phát huy chức năng quản lý Nhà nước, tăng cường củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng hậu bị đủ sức trấn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ công cuộc lao động hoà bình của nhân dân, hưởng ứng và chi viện kịp thời cho cuộc đấu tranh anh dòng của đồng bào miền Nam. Không ngâng nâng cao trình độ văn hóa và chăm lo đời sống sức khỏe nhân dân; tăng cường vai trũ lãnh đạo của Đảng, động viên các đoàn thể quần chúng tham gia ngày càng tích cực trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nông thôn”. Đảng bộ đã tập trung đi sâu, đi sát cơ sở trong đã mỗi đảng viên thực sự gương mẫu, xứng đáng với lòng tên của nhân dân; mỗi chi bộ phải dựa vào nhân dân và là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở. Khuyến khích đoàn viên thanh Niên thực hiện khẩu hiệu “đâu cần thanh Niên có, việc gì khó có thanh Niên”. Mỗi hội viên Phụ lão, Phụ nữ, mỗi dân quân tự vệ, xã viên hợp tác xã... Nêu cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội ra sức thờ đua thực hiện thắng lợi các môc tiêu kênh tế - xã hội mà kế hoạch 5 năm đã đề ra, góp phần làm cho quê hương Tây Lương “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội”. Hưởng ứng phong trào thờ đua do Huyện uỷ phát động, các hợp tác xã trong xã thờ đua cải tiến kỹ thuật, mở rộng diện tích thâm canh, xen canh gối vô. Đặc biệt, vấn đề thuỷ lợi được Đảng bộ xác định là mặt trận quan trọng hàng đầu, từ đã chủ động tưới tiêu và mở rộng diện tích cày cấy. Hàng trăm lao động, trong đã có cả giáo viên, học sinh ra đồng làm thuỷ lợi: đào, đắp, khơi thông mương máng, cống đập, san ghềnh, lấp trũng cải tạo đồng ruộng. Trên các cánh đồng cứ cách 100 một có một mương tiêu trong đã có mương cấp 2, cấp 3 dẫn nước vào Từng thửa ruộng. Các Trục sông tiêu từ thôn Thượng ra cống ông Phúng, từ thôn Hiên ra cống Đại Hoàng, từ Tiền làng thôn Nghĩa, hậu làng thôn Nghĩa ra cống ông Phượng và cống Đại Hoàng... Có thể nói mạng lưới thuỷ lợi được thiết kế, xây dựng khá hợp lý kháp kín đã tạo thuận lợi cho sản xuất và không ngâng nâng cao năng lực tưới tiêu cho toàn bộ diện tích canh tác của các hợp tác xã trong cả 2 vô chiêm, Mùa. Tính ra trung bình đào đắp từ 40.000 – 45.000 m3 đất với khoảng 3.500 ngày công mỗi năm(1). Ngoài ra được huyện hỗ trợ kênh phí, Đảng bộ chỉ đạo xây dựng mới cống ông Phúng, cống ông Phượng, mở rộng cống cô Chú, xây 300 cống bi đầu mối, xây thêm 13 cầu gạch ... Các công trình thuỷ lợi này sau khi được hoàn thiện đã phát huy tác dụng, kịp thời đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân. Đối với các khu đồng cao, các hợp tác xã đầu tư mỗi thôn từ 1 đến 2 máy bơm thuyền đảm bảo đủ nước tưới cho lúa và hoa mầu. Nhi đã diện tích gieo trồng được đưa vào sử dụng ngày một tăng, như hợp tác xã cấp cao thôn Hiên làm điểm hợp tác xã bậc cao, quê mô thôn làm ăn hiệu quả với 80% số hộ nông dân tham gia do đồng chí Tô Đình Huyên làm chủ nhiệm. Từ cuối năm 1960 Đảng uỷ quyết định lãnh đạo đưa các hợp tác xã thôn Thượng, Trung Đồng, Lương Phú, thôn nghĩa lên bậc cao. Đến năm 1961 thôn Trung Đồng có 100% số hội vào hợp tác xã (90 hộ), diện tích canh tác trên 104 mẫu; hợp tác xã cấp cao thôn Thượng có trên 90% số hộ tham gia, có diện tích canh tác 218 mẫu...; hệ số sử dụng đất cũng được nâng lên, năm 1962 là 1,63 lần, năm 1964 tăng lên 2,03 lần. Đã là thành tích chưa từng có trong lịch sử từ trước đến lúc bấy giờ. Quan hệ sản xuất tập thể với phương châm củng cố, hoàn thờện và mở rộng quy mô hợp tác xã từng bước thực hiện phân công lao động ở nông thôn. Đến tháng 8/1963 toàn xã còn 8 hợp tác xã gồm 36 đội sản xuất, chiếm trên 85% số hộ nông dân trong toàn xã vào hợp tác xã(1). Đồng thời với củng cố và mở rộng quy mô hợp tác xã, phong trào cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp được cán bộ, đảng viên và xã viên hợp tác xã triển khai, thực hiện có hiệu qủa. Các hợp tác xã đã thi đua cấy hết diện tích, cấy kịp thời vô, đảm bảo đủ nước tưới và chăm bãn đúng kỹ thuật, tăng cường làm phân xanh, phân bón(2) và cải tiến nông cụ (từ cày chìa vôi chuyển sang dùng cày cải tiến – cày 51), dùng liềm thay hái cắt lúa, dựng trâu thay người kéo đá trục lúa... Các hợp tác xã còn tổ chức chăn nuôi lợn tập thể, làm lò vôi, lò gạch. Tính đến cuối năm 1964, đầu 1965 hầu hết các hợp tác xã của Tây Lương cơ bản đắp xong bờ vùng, bờ thửa, khơi thông mương máng, xây dựng trạm bơm và làm được chuồng trại chăn nuôi tập thể, nhà kho, sân phơi... Qúa trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vô phát triển kênh tế, cấp uỷ chủ động chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tạo sự chuyển biến từ việc thay đổi các loại giống lúa cho Từng vô. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ III đã xác định: phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc, thực hiện thâm canh tăng năng suất cây trồng, trong đã cây lúa có vai trò chủ lực đồng thời tăng vụ, từ đã đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, từ năm 1961 – 1963 thiên tai liên tiếp xảy ra, việc cải tiến kỹ thuật, cải tiến nông cô cũng mới chỉ là bước khởi đầu, phổ biến lao động còn là thủ công, quá trình chuyển đổi cây trồng, xen canh, thâm canh mới đặt ra chưa được thực hiện đồng bộ; chăn nuôi, nghề Phụ chưa phát triển nên đời sống nhân dân trong xã còn nhiều khó khăn. Thu nhập của các hộ xã viên từ kênh tế Hợp tác xã còn thấp (năm 1962 thu nhập kinh tế hợp tác xã là 24,67%, trong khi đã thu nhập kinh tế gia đình là 75,33%). Mặt khác có hợp tác xã khi lên quy mô lớn thì sản xuất không phát triển bằng lúc còn ở quy mô nhá, do đã dẫn đến tình trạng một số xã viên xin ra hợp tác xã vì lao động trong hợp tác xã, chế độ công điểm thấp, không đủ sống. Thôn Lương Phú tự 3 Hợp tác xã bậc thấp hợp nhất thành 2 hợp tác xã do đồng chí Hoàng Văn Thắng và Nguyễn Đức Tỵ làm chủ nhiệm. Đến năm 1962 lại hợp nhất qui mô Hợp tác xã toàn thôn, đồng chí Ngô Văn Nghiễn được bầu làm chủ nhiệm. Tháng 8/1963 do năng lực cán bộ yếu, nội bộ xa viên mâu thuẫn lại phải tách thành 2 hợp tác xã. Năm 1964 tiếp tục liên hợp qui mô hợp tác toàn thôn đồng chí Ngô Duy Thạo bầu làm chủ nhiệm. Từ cuối năm 1962 - 1963 thôn Thượng hợp nhất 4 hợp tác xóm lên qui mô thôn do đồng chí Tô Văn Mẩu làm chủ nhiệm. Thôn Nghĩa hợp nhất 3 hợp tác xã xóm thành hợp tác xa qui mô thôn do đồng chí Tô Ngọc Phiện làm chủ nhiệm. Thôn Trung Tiến hợp nhất 3 hợp tác xã lên qui mô thôn đồng chí Hoàng văn Thành được bầu làm chủ nhiệm. Thôn Tam Đồng hợp nhất 2 hợp tác xã lên qui mô thôn, đồng chí Trần Tiềm được bầu làm chủ nhiệm. Để khắc phục thực trạng yếu kém, thiếu dân chủ, từ năm 1963 Đảng bộ tập trung củng cố hợp tác xã, phát huy dân chủ, tìm ra những biện pháp tháo gỡ. Có thể là cùng với việc mở Đại hội xã viên, đánh giá những kết quả đã đạt được, công khai minh bạch về vốn quỹ, chỉnh sửa, bổ sung những quy định về 3 khoán và kiện toàn Ban Quản trị ở một số hợp tác xã. Đặc biệt là rà soát lại cơ chế 3 khoán: khoán công điểm, khoán chi phí, khoán sản lượng, trên cơ sở đã nâng cao chất lương 3 khoán, tạo động lực khuyến khích xã viên gắn bó với đội sản xuất, quan tâm đến kết qủa lao động của mình, thúc đẩy sản xuất phát triển. Trước yêu cầu bức thiết đã, Ban Chấp hành Đảng bộ đã xem xét, chọn cử những đồng chí cán bộ, đảng viên thực sự có trình độ, năng lực trực tiếp làm Chủ nhiệm hợp tác xã, những đồng chí này khi được giao trọng trách phải có tinh thần trách nhiệm, có tác phong quần chúng “bám đội, lội đồng”, sâu sát trong chỉ đạo sản xuất. Do làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, kết hợp với các giải pháp thích hợp, việc củng cố các hợp tác xã đã đạt được kết quả đáng khích lệ, xã viên trong các hợp tác xã phấn khởi, tên tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng, họ tự xác định “hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”. Năm 1965, năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Tây Lương đã giành được nhiều thắng lợi trong xây dựng hợp tác xã và phát triển kinh tế. Mặc dù, kết quả đạt được ở mỗi hợp tác xã có khác nhau, nhưng nhìn chung phong trào hợp tác xã toàn xã có bước củng cố và phát triển, nhất là việc sửa đổi và nâng cao chất lương 3 khoán đã đáp ứng trúng, đúng yêu cầu của thực tế, ý thức lao động của xã viên được nâng lên, chất lượng công việc có tiến bộ, tình trạng đi muộn về sớm đã giảm dần; lòng tin của nhân dân vào con đường hợp tác hoá đã được củng cố, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông thôn được tăng cường. Trình độ quản lý của hợp tác xã, nhất là quản lý lao động, tài vụ có chuyển biến tiến bộ. Việc sắp xếp, bố trí lao động trong nông nghiệp bắt đầu được quan tâm giải quyết theo hướng chuyên sâu để đảm bảo chất lượng và năng suất cơ bản, lần lượt các đội chuyên trong sản xuất được thành lập như đội chuyên giống, chuyên chăn nuôi, chuyên bốo hoa dâu, chuyên thuỷ lợi (đội 202), đội nông giang ... Vì vậy năng suất, tổng sản lượng lúa, hoa mầu đều tăng, bình quân lương thực đầu người đạt 300 – 350 kg/năm. Xuất phát từ việc tổ chức sắp xếp lại lao động trong nông nghiệp hợp lý, làm cho lực lượng lao động trong các hợp tác xã dôi dư, nảy sinh yêu cầu vận động bà con đi xây dựng phát triển kênh tế mới. Trước yêu cầu mới, phát huy truyền thống khai hoang, ngày 30/03/1961 chấp hành Nghị quyết của huyện uỷ ban chấp hành đảng bộ ra Nghị quyết vận động đảng viên, cán bộ và nhân dân trong xã tham gia xây dựng vùng kênh tế mới, xã mới Nam Cường, kết quả có 60 hộ dân thuộc các thôn Lương Phú, thôn Thượng, thôn Hiên và thôn Nghĩa do đồng chí Bùi Văn Nhĩ Đảng uỷ viên làm đoàn trưởng dẫn đầu cùng 20 cán bộ đi xây dựng kinh tế mới Nam Cường. Cuối năm lại cử tiếp 35 hộ đi xây dựng cánh đồng muối ở Đông Minh theo yêu cầu của Trung ương. Kết quả thôn Tam Đồng có 5 hộ, thôn Lương Phú 10 hộ, thôn Nghĩa 20 hộ. Với truyền thống cần cù, thông minh và sáng tạo trong lao động xây dựng của quê hương, cán bộ, nhân dân – những người từ Tây Lương đến nơi làm ăn mới: Nam Cường, Đông Minh đều tích cực hăng say lao động sản xuất và có cuộc sống ổn định, phát triển. Đầu năm 1962 Bác Hồ về thăm xã Nam Cường đồng chí Bùi Văn Nhĩ được Bác tặng huy hiệu. Hợp tác xã “vay mượn” của xã hoạt động ngày càng đem lại hiệu quả thiết thực, năm 1962, Hợp tác xã “vay mượn” đổi tên thành Hợp tác xã tín dụng, chức danh chủ nhiệm đổi thành chủ tịch theo hệ thống ngân hàng nhà nước, tiếp tục thực hiện tốt hơn chức năng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân và vốn ngân hàng, tạo điều kiện để các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn xã xây dựng cầu, cống, nhà kho, sân phơi, trại chăn nuôi... góp phần làm cho bộ mặt nông thôn Từng bước thay đổi. Từ năm 1961 – 1965, hợp tác xã mua bán mở thêm cửa hàng thuộc khu vực Trung Tiến, thôn Thượng, tích cực khai thác nguồn hàng như đường mía (Hưng Nhân), muối (Đông Minh), mắm (Nam Thịnh), miến dong (Nam Hải) và các mặt hàng mây tre đan... phục vụ đắc lực cho đời sống của nhân dân, thu được nhiều lợi nhuận, mở rộng phục vụ kinh doanh, khuyến khích xã viên mua thêm cổ phần(*) để được hưởng lãi hiện vật thiết yếu như: kêm, chỉ, diêm, đá lửa, khăn mặt... Nhằm phá thế độc canh cây lúa, phá xiềng 3 sào, các nghề truyền thống như sản xuất vôi, gạch, mộc, nề, thuyền vận tải (Lương Phú, Tam Đồng), đan bao manh, mũ, thẻo (Đại Hoàng) ngày càng được nhân dân phát huy và đem lại hiệu quả. Đặc biệt hợp tác xã thủ công của Đại Hoàng do đồng chí Hoàng Khắc Tuất Phụ trách đã mở rộng việc rèn, đúc nông cụ phục vụ sản xuất, đời sống đã thu hút hàng trăm lao động, tăng thu nhập, cải thiện đời sống người lao động, sau này phát triển thành Hợp tác xã cơ khí Tiền tiến lớn nhất của huyện trực thuộc phòng công nghiệp huyện. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, cùng với phát triển kinh tế, Đảng ta luôn quan tâm đúng mức đến việc đẩy mạnh cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa - một trong ba cuộc cách mạng trong thời kì qúa độ lên chủ nghĩa xã hội. Cấp uỷ Đảng Tây Lương lấy nội dung giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý chí đấu tranh thống nhất nước nhà và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội làm trọng tâm trong công tác tư tưởng. Cấp uỷ đã dựa vào các đoàn thể quần chúng và gắn công tác chính trị tư tưởng với việc quan tâm, nâng cao đời sống nhân dân lao động. Phong trào xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, giếng nước, nhà tắm trong các xóm, thôn phát triển. Xã đã chọn cử những cán bộ, đảng viên, đoàn viên trẻ, có trình độ đi đào tạo y tá, y sỹ để phục vụ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Được sự quan tâm của ngành y tế huyện, tháng 5/1961, Đảng uỷ chỉ định các ông Nguyễn Văn Lân, Lê Duy Cự, Nguyễn Văn Tín, Tô Đình Trạo, Tô Thị Rốm, Vũ Thị Bót thành lập Ban Y tế xã do ông Nguyễn Văn Lân Phụ trách. Ngày 10/01/1964 khởi công xây dựng trạm xá xã tại thôn Nghĩa gồm 5 gian nhà cấp 4 lợp ngói dựng làm phòng trực, phòng điều trị và 1 nhà 3 gian dựng làm kho. Mặc dù trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh thiếu thốn, nhưng với tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ được giao, đội ngũ y sỹ, y tá đã khắc phục khó khăn làm tốt công tác chăm sóc sức kháe nhân dân. Hệ thống thông tên tuyên truyền (loa công cộng) đã kịp thời chuyển tải các chủ trương, chính sách của Đảng đến với nhân dân trong thôn, xã. Phát huy truyền thống văn hóa, văn nghệ, nhất là các “gánh chèo” của thôn Nghĩa, Lương Phú .. ngày nay, các hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng sáng tác, biểu diễn ca, kịch, thơ, chèo, diễn ra khá sôi nổi, thu hút đông đảo nhân dân hưởng ứng. Về giáo dục, bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, phong trào bổ túc văn hoá toàn xã đã có 95 % dân số biết đọc, biết viết. Trải qua những năm tháng chiến tranh, số tái mự chữ trở lại khoảng 13 đến 15 %. Và nay, do yêu cầu của cuộc sống mới đặt ra cho cán bộ, đảng viên và mọi người dân phải nâng cao trình độ dân trí. Đảng uỷ ra nghị quyết phát động toàn dân học bổ túc văn hoá và nhấn mạnh "cán bộ chủ chốt xã, các ngành và Hợp tác xã mỗi năm phải lên một lớp" ở xã được bố trí một giáo viên chuyên trách, vì vậy số học viên học bổ túc văn hoá tăng theo từng năm, năm 1962 xã có 420 người theo học thì năm 1964 có 515 học viên. Cùng với công tác bổ túc văn hóa, giáo dục phổ thông của xã cũng phát triển khá mạnh. Với truyền thống hiếu học, nhân dân trong xã đã cùng với chính quyền địa phương bá công sức, tiền của xây dựng thêm lớp học mới. Số học sinh vỡ lòng, cấp I tăng hơn so với các năm trước(1) và ngày 5/9/1965, năm đầu tiên hệ phổ thông cấp II của xã khai giảng gồm 12 lớp với 500 học sinh do thầy Lê Văn Áng làm hiệu trưởng. Chất lượng học tập của học sinh các cấp học từng bước được nâng lên, nhất là trong phong trào thờ đua học tập và đuổi kịp Bắc Lý2. Thầy giáo và học sinh trong xã đã hăng hái thực hiện “học hay, dạy giỏi”, gắn học tập với lao động sản xuất, đời sống. Những hoạt động tích cực của giáo dục đã có tác động tích cực đến việc triển khai và phổ biến sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng đến với mọi người, mọi nhà tạo đà cho sức sống mới phát triển. Trong lúc sự nghiệp cách mạng Xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đang ngày càng lớn mạnh, các lực lượng phản động cấu kết với đế quốc Mỹ ráo riết hoạt động chống phá. Cấp uỷ Đảng đã chủ động chỉ đạo lực lượng dân quân giữ vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ an ninh ở địa phương, nhất là phục vụ các chiến dịch làm thuỷ lợi, làm phân, chống lụt bão, cải tiến kỹ thuật trong sản xuất. Toàn xã có 6 thôn được thành lập 5 đại đội dân quân hỗn hợp và 1 đại đội cơ động, 1 trung đội cứu thương, đưa số lượng dân quân lên 15 – 20% dân số. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng dân quân, đồng chí Bí thư trực tiếp làm Chính trị viên nắm vững số lượng, vũ khí, thường xuyên chỉ đạo công tác huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, tổ chức diễn tập, luân phiên tuần tra canh gác đồng thời tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho lực lượng cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng dân quân. Đến tháng 6/1964, trước khi đế quốc Mỹ dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc bộ” rồi dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc (5/8/1964), Ban Chấp hành Đảng bộ xã đã căn cứ vào hướng dẫn, chỉ đạo của Huyện uỷ và cơ quan quân sự huyện xây dựng kế hoạch tác chiến, bố trí lực lượng chiến đấu ở những nơi quan trọng: kho tàng, đi, bến đò Trà Lý... những môc tiêu mà địch có khả năng oanh tạc, bắn phá. Lực lượng dân quân tự vệ có sự hợp đồng tác chiến giữa các thôn, các xã bạn, đồng thời chủ động đào hàng trăm hầm, hố, hàng chục một giao thông hào ở trường học, trạm xá và các gia đình đảm bảo tốt nhất cho công tác phòng không nhân dân. Qua huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật và bắn đạn thật, có trên 85% cán bộ, dân quân đạt khá giỏi. Công tác tuyển quân và giao quân hàng năm được thực hiện nghiêm túc, đúng luật quy định; trong đã đoàn viên thanh niên tự nguyện hăng hái đăng ký nghĩa vô quân sự. Cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể tổ chức long trọng, chu đáo việc tiễn đưa thanh niên lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo cả về số lượng, chất lượng. Từ năm 1959 đến 1964 toàn xã có 166 thanh Niên nhập ngũ. Công tác xây dựng Đảng được cấp uỷ Đảng thường xuyên chăm lo, đặc biệt là công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Thông qua việc học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước như tháng 1/1961 học tập nghị quyết Trung ương 5 về chỉnh huấn trong Đảng và cuộc vận động xây dựng Đảng theo tiêu chuẩn đảng viên 4 tốt, Chi bộ 4 tốt; tháng 9/1962 cuộc vận động chống tham ô lãng phí... Vì thế đã tạo nên không khí phấn khởi, đoàn kết nhất trí cao trong nội bộ Đảng và nhân dân với tinh thần “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”, góp phần chi viện cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Đội ngũ cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng kiện toàn đủ sức lãnh đạo thực hiện nhiệm vô “vừa sản xuất vừa chiến đấu”. Do làm tốt công tác phát triển đảng viên mới, Đảng bộ không những được tăng cường về số lượng mà yêu cầu chất lượng ngày càng được nâng lên. Trong 5 năm (1961 – 1965) Đảng bộ đã kết nạp được 61 đảng viên mới. Công tác kiểm tra đã thường xuyên được thực hiện nghiêm túc, đạt yêu cầu đề ra, tạo Tiền đề không ngâng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, Chi bộ. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân luôn coi trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động đem lại hiệu qủa thiết thực cả trong lúc thời bình cũng như khi chiến tranh phá hoại của Mỹ xảy ra. Qua 5 năm (1961 – 1965) thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, trong đã nhiệm vô cơ bản là cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ Tây Lương luôn đoàn kết, vững tên vào sự lãnh đạo của Đảng, vượt qua gian nan, thử thách, quyết tâm chống nghèo nàn, lạc hậu, đưa nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể. Tuy nhiên trong qúa trình thực hiện đường lối cải tạo xã hội chủ nghĩa và hợp tác húa nông nghiệp vẫn còn bộc lộ những tồn tại, khuyết điểm là: mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất mới với lực lượng sản xuất vẫn chưa được giải quyết ; chăn nuôi, ngành nghề, kênh tế gia đình và đời sống nhân dân lao động vẫn còn thấp. Năm 1964 quá trình vận động toàn xã đã kết nạp thêm được 280 hộ xã viên mới. Tuy nhiên vẫn còn 21 hộ xin ra, trong đã thôn Thượng 08 hộ, thôn Hiên 04 hộ, thôn Nghĩa 05 hộ, thôn Lương Phú 04 hộ. Mười năm (1955 – 1965), kể từ khi hoà bình lập lại, nhất là những năm thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đã đạt được những thành tích rất đáng khích lệ. Đảng bộ đã trưởng thành cả về số lượng, chất lượng và phát huy tốt vai trũ Tiền phong gương mẫu được nhân dân tín nhiệm, tên yêu. Nông dân Tây Lương từ thân phận đói nghèo, tên đi theo Đảng và trở thành lực lượng quan trọng của cách mạng đã và đang vững bước trên con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Về thuỷ lợi, đi điều: đảng bộ và nhân dân Tây lương cùng với đảng bộ và nhân dân trong huyện tiến hành quai đi, lấn biển, Phụ trúc đê sông Trà Lý, đê biển; đào sông khơi thông dòng chảy, thau chua rửa mặn trên địa bàn khu Đông và khu Nam. Năm 1956 - 1957 Nhà nước đầu tư xây dựng cống Tam đồng, cống Đại Hoàng, nhân dân trong xã tham gia phu trúc đê Tam đồng, hàn khẩu đoạn Tân kênh, Phụ trúc đê sông Trà Lý đoạn sau làng Lương Phú, đoạn Trà Lý - Đông Trà - Đông Long. Điều động khoảng 60.000 ngày công theo chế độ nghĩa vụ tuổi từ 18 - 60 (15 ngày công/người/năm ). Tiếp theo các năm 1960 - 1965 nhân dân xã Tây lương tích cực tham gia trên các công trường quai đê lấn biển ở các xã Nam Cường, Đông Long, Đông Hoàng, Đông Minh hàng trăm ngày công. Điển hình như ngày 02/03/1961 huyện giao cho xã 20.787 m3 đào đắp, trong đã đào sông đoạn Nam Thanh đi Nam Hưng 7.138m3; đoạn đi sông Hồng trên xã Nam Hưng 13.640m3 hoàn thành trước Mùa mưa, xã đã tổ chức đội quân hùng hậu gồm 900 người, Đảng uỷ phân công 03 đảng uỷ viên do đồng chí Hoàng Văn Đấu làm trưởng ban chỉ huy công trường, các đồng chí Đặng Đình Nhân, Bùi Văn Hất làm phó ban, đồng chí Tạ Ngọc Phiêu Phụ trách kỹ thuật, đồng chí Nguyễn Lân Trưởng trạm y tế đi cùng, đã nỗ lực phấn đấu, đến cuối tháng 6 năm 1961 hoàn thành toàn bộ khối lượng của huyện giao, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, được uỷ ban hành chính huyện tặng bằng khen. Đảng bộ và nhân dân Tây Lương còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vô náp thuế nông nghiệp và bán thúc nghĩa vô cho Nhà nước trong những năm 1956 - 1959, trong đã thuế là chủ yếu, bình quân mỗi năm 138 tấn, trong bốn năm 552 tấn. Riêng năm 1960 đến 1965 nộp thuế và bón nghĩa vụ 945.805 kg, năm 1961 năng xuất lúa toàn xã đạt 67 kg/ sào(1).

Nền kinh tế của xã từ chỗ chủ yếu là thuần nông, sản xuất manh mún, năng suất lao động thấp đã dần dần phát triển thành một nền nông nghiệp mới Xã hội chủ nghĩa, không ngâng được cải tiến trên cơ sở áp dụng khoa học kỹ thuật. Vì vậy, năng suất lao động dần dần tăng lên, sức lao động của nông dân cơ bản được giải phóng. Những thành tựu trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mà Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đạt được trong 10 năm qua là to lớn và quan trọng, chứng minh đường lối lãnh đạo của Đảng ta đúng đắn, hợp lòng dân đã tạo nên những tiền đề cần thiết cho sự phát triển của quê hương trong những năm tiế
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong II-2,3)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH :: Linh Tinh Khác :: Kiến Thức Tổng Hợp-
Chuyển đến