CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH

NƠI GẶP GỠ CÁC BẠN CÙNG KHÓA, CÙNG TRƯỜNG, CÙNG QUÊ VÀ CÁC THẦY CÔ TRÊN KHẮP MỌI MIỀN
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
February 2018
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728    
CalendarCalendar
Social bookmarking
Social bookmarking digg  Social bookmarking delicious  Social bookmarking reddit  Social bookmarking stumbleupon  Social bookmarking slashdot  Social bookmarking yahoo  Social bookmarking google  Social bookmarking blogmarks  Social bookmarking live      

Bookmark and share the address of CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH on your social bookmarking website
Top posting users this month
Most active topics
NGUYỄN NGỌC BẢO VÀ CỰU HỌC SINH K76-79 GẶP NHAU Ở SÀI GÒN
Chùm thơ Phan Sĩ Phú
gặp mặt thường niên 2013 tại Sóc Sơn
Gặp mặt kỷ niệm 35 năm ra trường K76-79 (16-11-2014) tại Trường
ĐÁM CƯỚI CON TRAI CỦA HƯƠNG LỚP G TẠI TP.HCM
Lễ Vu Quy Con Gái Anh Khoa (lớp C) ở Hà Nội
HÌNH ẢNH KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY RA TRƯỜNG HỘI CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 TRƯỜNG PT CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Mời các bạn cựu HS cấp III Tây Tiền Hải khóa 76-79 gặp gỡ tại Vĩnh Phúc
Truyện ngắn 100 chữ
DANH SÁCH CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Latest topics
» Chúc mừng năm mới
Thu Mar 24, 2016 9:36 pm by buitiendung

» Chào xuân Bính Thân
Wed Feb 03, 2016 10:26 pm by buitiendung

» Chia buồn với gia đình bạn Phan Quốc Sự
Wed Jan 20, 2016 11:23 am by phanquocsu

» Thông báo mới
Wed Jan 20, 2016 11:22 am by phanquocsu

» Danh sach G
Wed Dec 30, 2015 4:30 pm by phanquocsu

» Thông báo khẩn
Fri Nov 20, 2015 10:49 pm by buitiendung

» Thông báo mời gặp mặt K76-79 trường TT Hải Năm 2015
Tue Oct 06, 2015 10:44 pm by buitiendung

» Thân gửi các bạn!
Sun Sep 27, 2015 8:41 pm by buitiendung

» Kỷ niệm 30 năm ra trường Hội HS K76-79 Cấp 3 Tây Tiền Hải
Fri Aug 21, 2015 11:35 pm by buitiendung

Keywords
Poll
Statistics
Diễn Đàn hiện có 62 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: Mrgift

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 772 in 271 subjects

Share | 
 

 Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong II-1)

Go down 
Tác giảThông điệp
buitiendung
Admin


Tổng số bài gửi : 158
Join date : 26/10/2012
Age : 55
Đến từ : Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong II-1)   Thu Jul 04, 2013 10:39 pm

CHƯƠNG HAI KHÔi PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI, THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT (1954 – 1965)

Trải qua 9 năm kháng chiến trường kì, hy sinh ác liệt, Đảng bộ và nhân dân Tây Lương đã góp phần xứng đáng cùng với nhân dân Tiền Hải và quân dân cả nước kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày 20/9/1954 Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, sự kiện này là bước ngoặt lịch sử đối với cách mạng nước ta. Kể từ đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta bước vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng mới là xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Cùng với đảng bộ và nhân dân Tiền Hải, cán bộ, Đảng viên và nhân dân Tây Lương bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá xã hội gặp rất nhiều khó khăn. Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân sau hoà bình: Về kinh tế: do hậu quả của chiến tranh, thiên tai úng lụt, trình độ sản xuất thấp, nông cụ thiếu, lạc hậu, nhất là sức kéo thiếu nghiêm trọng nên năng xuất lúa chỉ đạt 50 đến 70 kg/sào/vụ, 90% hộ thiếu ăn từ 4 - 6 tháng trong năm; 90% nhà ở là tường đất, mái tre,nứa, lợp rạ, quần áo ít, đặc biệt quần áo ấm về mùa đông, chăn đắp thiếu, màn che muỗi không có, thường về mùa hè, tối đến đóng kín cửa, hum muỗi, bỏ mành để ngủ, mùa đông trải ổ rơm, rạ dưới nền đất thay giường. Nông dân đi làm đồng thường khoắc áo bị, áo chiếu cói, che mưa chống rột. Tiện nghi sinh hoạt gia đình không có gì dáng kể. phương tiện sinh hoạt như bể đựng nước, hố xí chỉ nhà giàu mới có. Cả làng chỉ có từ 1 dến 2 giếng khơi, còn lại dùng nước ao tù. Nhất là những gia đình bị giặc đốt phá nhà cửa thì cuộc sống rất cực khổ. Về văn hoá: 95% dân số mới tập đọc, tập viết, nhiều người tái mù chữ; lối sống lạc hậu, ảnh hưởng nặng lề của chế độ phong kiến đế quốc để lại. Tuy nhiên nét đặc sắc về văn hoá như việc cưới đã đạt được tiến bộ như nhiều đôi trai gái trong làng không theo hủ tục cũ mà do đoàn thanh niên đứng ra tổ chức ở nơi công cộng trong không khí vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm với khẩu hiệu:"vui duyên mới không quên nhiệm vụ"; việc tang hiếu cũng gọn nhẹ, trang nghiêm. Giao thông thuỷ lợi còn rất khó khăn, nhất là đường làng, ngõ xóm, quanh co khúc khủyu, bậc thang theo dấu chân trâu, nên lầy lội vố Mùa mua, bôi bẩn vố Mùa hố, ra đồng phải cửi quần vắt vai lội sông ... việc đi lại hầu hết là đi bộ, chân không dày dáp, cả xã chỉ có vài người có xe đạp. Cơ sở y tế công cộng không có, bệnh dịch phát triển, tuổi thọ thấp, trẻ sơ sinh sa sảy nhiều. Cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã vốn có truyền thống đoàn kết, anh dũng, sáng tạo vượt qua khó khăn, thử thách trong xây dựng và bảo vệ quê hương. Nay quê hương được giải phóng, được sống trong hoà bình, chắc chắn mọi người sẽ tiếp tục đóng góp tài năng sức lực của mình trong xây dựng và bảo vệ cuộc sống mới. Đội ngũ cán bộ, đảng viên được tôi luyện, thử thách và trưởng thành trong đấu tranh cách mạng đã tự khẳng định được bản lĩnh lãnh đạo và sức chiến đấu, càng hiểu hơn ai hết cái giá phải trả trong kháng chiến để có được tự do độc lập. Bởi vậy, khi quê hương được giải phóng, người người đều phấn khởi, tên tưởng đi theo Đảng. Những thuận lợi cơ bản đã đã tạo nên động lực to lớn để nhân dân Tây Lương tiếp tục vượt qua hết thảy khó khăn, vững vàng bắt tay vào thực hiện các nhiệm vụ cách mạng mới.

I- KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, KHÔi PHỤC KINH TẾ, TỪNG BƯỚC ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN (7/1954 - 12/1957) 1- Nhanh chúng hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân Sau khi quê hương sạch bóng quân xâm lược, được sống trong tự do, hoà bình, nhân dân ta đứng trước biết bao công việc, việc gì cũng rất cần được giải quyết. Được sự chỉ đạo sâu sát của Huyện uỷ, Chi bộ Đảng đã lãnh đạo nhân dân trong xã bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định đời sống. Để thực hiện nhiệm vụ khó khăn và nặng nề này, công tác Tuyên truyền vận động quần chúng được đặt lên hàng đầu, Chi bộ Đảng phân công cán bộ xuống từng thôn, xóm tiến hành công tác tuyên truyền, nói rõ thắng lợi của ta và âm mưu đen tối của địch. Hầu hết nhân dân trong xã đều hiểu rõ sự nghiệp kháng chiến của dân tộc ta tất yếu thắng lợi là do có sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch; có quân đội nhân dân anh hùng, có sức mạnh đoàn kết của toàn dân. Đồng thời mỗi người cũng nhận thức rõ hơn về âm mưu nham hiểm của kẻ thự; nhìn chung nhận thức của nhân dân có chuyển biến tiến bộ. Cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể đã chuẩn bị tài liệu, phương tờện để phổ biến sâu rộng mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ tới mọi thôn, xóm. Cùng với những tài liệu nói rõ thắng lợi to lớn của ta, vạch rõ âm mưu, tội ác của địch, còn có các bài xã luận như “Đoàn kết toàn dân đập tan âm mưu của Ngô Đình Diệm” (Đăng trên báo Cứu quốc, số 63); “Đoàn kết phấn đấu nhất định thắng lợi” của đồng chí Tôn Đức Thắng, được Tỉnh uỷ in lại gửi về thôn, xã. Xã đã kết hợp sinh hoạt học tập với việc tổ chức họp những gia đình cán bộ, bộ đội cùng một số gia đình bị địch tàn phá chịu nhiều thiệt hại nặng nề (theo đơn vị thôn) để thông suốt tư tưởng, cùng nhau gạt bá những thành kiến và thấy rõ hơn âm mưu, tội ác của địch. Các thôn trong xã đã tổ chức những đêm liên hoan văn nghệ ca ngợi hoà bình, biểu dương thắng lợi của cuộc kháng chiến. Để nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, công tác giáo dục chính trị tư tưởng và xây dựng lực lượng dân quân du kích được coi trọng và đi vào nề nếp. Ban Chỉ huy xã đội, thôn đội được chấn chỉnh, kiện toàn. Các đồng chí trong Ban Chỉ uỷ, đảng viên xuống trực tiếp sinh hoạt với dân quân du kích, quán triệt nhiệm vô sẵn sàng đánh địch, kịp thời trấn áp bọn phản cách mạng và tổ chức cho dân quân du kích học tập chính sách thương bênh, Liệt sỹ, rà phá bom mìn, san lấp hầm, hào, công sự. Vì vậy công tác bảo đảm an ninh trật tự được tăng cường, lực lượng dân quân, du kích tuần tra canh gác thường xuyên, nhất là khu dọc đường 39B và các điểm xung yếu đi vào các thôn. Công việc khôi phục giao thông cũng được tiến hành khẩn trương, những ô đất cản xe cơ giới của địch trên đường 39B, ven sông Trà Lý đều được phá rỡ, ước tính hàng nghìn ngày công. Giữa lúc cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã đang tập trung mọi nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống, địch đã lợi dụng đạo thiên chúa để thực hiện âm mưu dô dỗ, cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam, trắng trợn vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ. Chúng không ngừng tung ra các luận điệu Tuyên truyền bịa đặt, phản động “Chúa đã vào Nam”, “Bắc bộ là đất của Việt Minh và Cộng sản đã phá đạo”, “Mỹ sẽ ném bom nguyên tử xuống miền Bắc”, “Ai vào Nam sẽ được trả lương cao, cấp ruộng đất”... Vì vậy, khá đông bà con giáo dân trong huyện nói chung, Tây Lương nói riêng đều hoang mang, nhất là những người trước đây theo giặc càng hoang mang lo sợ hơn. Thực tiễn lúc đã ở nhiều địa phương trong huyện, nhiều bà con giáo dân lương thiện đang yên ổn làm ăn đã bán vội nhà cửa, đồ đạc, gia súc, chuẩn bị rời bỏ quê hương vào Nam. Ở xã lúc đã có một nhà thờ họ lẻ thuộc xóm Trung Tiến nằm sát bờ sông Sứ (tiếp giáp Vũ Lăng) gồm 4 hộ, 17 khẩu. Cán bộ ta đến tuyên truyền vận động, bà con không tá thái độ gì, vẫn làm ăn bình thường. Nhưng vào giữa những ngày thu hoạch vụ lúa mùa (tháng 10/1954)(2) các gia đình này, có nhà đã gặt xong, có nhà sân lúa đang trục dở, trong một đêm khuya họ bí mật rủ nhau đi hết, bỏ lại toàn bộ gia sản. Thực hiện chỉ thị ngày 5/9/1954 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, được Huyện uỷ Tiền Hải chỉ đạo sát sao, cấp uỷ, Chi bộ theo sát tình hình, có kế hoạch kịp thời lãnh đạo nhân dân đấu tranh, phá tan âm mưu của địch lừa gạt, cưỡng áp giáo dân vào Nam, coi đây là nhiệm vụ cấp bách phải tập trung để ổn định đời sống nhân dân. Bằng những nỗ lực cố gắng, một số địa chủ, tề ngôy có ý định ra đi nhưng ta đã kiên trì vận động, thuyết phục với tinh thần dân tộc, quê hương nên họ đã yên tâm ở lại xây dựng quê hương. Duy chỉ có gia đình Tô Huệ (Chánh Huệ) có 4 người con trai, 3 người đã có vợ, con đi cả (trong đã có Tô đình Tuyển đầu hàng theo địch) Sau ngày kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cách mạng chuyển sang một giai đoạn mới, công tác xây dựng Đảng đặt ra nhiều yêu cầu bức thiết, lúc này số lượng, chất lượng của Chi bộ Đảng ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, trước yêu cầu của nhiệm vụ mới, để tăng cường vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu và đề cao tinh thần đoàn kết vốn có của Chi bộ, cấp uỷ đã tập trung động viên, giáo dục cán bộ, đảng viên thấy rõ yêu cầu, nhiệm vụ mới, thấm nhuần chủ trương, chính sách mới của Đảng. Vì vậy, nội bộ Chi uỷ và Chi bộ đoàn kết, sinh hoạt Đảng đảm bảo nề nếp theo quy định của Điều lệ. Tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình trong sinh hoạt Đảng được nâng lên. Đội ngũ cán bộ trong xã được sắp xếp, bổ sung. Mỗi cán bộ, đảng viên đều có ý thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kế cận để khi cấp trên điều động là có người thay; lề lối làm việc của cấp uỷ có nhiều tiến bộ, dân chủ được mở rộng; tình đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong nhân dân được nâng lên. Đi đôi với công tác xây dựng Đảng, từ sau khi hoà bình được lập lại, việc tiếp tục xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân cũng đã và đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết cần phải từp trung chỉ đạo, giải quyết là: mặc dự cơ sở vật chất có nhiều khó khăn: trụ sở làm việc của chính quyền xã còn nhỏ tạm vào nhà dân và đền, chùa nhưng vẫn đảm bảo được các yêu cầu thuận tiện giao dịch của nhân dân. Tinh thần phục vô nhân dân của đội ngũ cán bộ xã, thôn đã có những tiến bộ rõ rệt, gần dân, gắn bó với dân, công tâm giải quyết các công việc có liên quan đến đời sống của nhân dân, khẳng định được tính ưu việt của chế độ mới góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ xã, thôn ở Tây Lương lúc này luôn luôn coi trọng việc nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực công tác nên đã đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vô bảo vệ và xây dựng quê hương. Các đoàn thể quần chúng như Đoàn Thanh Niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân của xã cũng được kiện toàn và đi vào hoạt động ngày càng chất lượng. Việc xét kết nạp đoàn viên, hội viên mới đảm bảo chặt chẽ, đoàn viên, hội viên đã nâng cao tinh thần trách nhiệm trước yêu cầu nhiệm vô trong giai đoạn cách mạng mới. Lực lượng dân quân du kích được tăng cường cả về số lượng và chất luợng là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của chính quyền mới. 2- Hoàn thành giảm tô và cải cách ruộng đất Mục tiêu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta là đánh đuổi đế quốc Pháp để thực hiện độc lập dân tộc, đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến thực hiện dân cày có ruộng và tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện mục tiêu trên, ngay từ năm 1953 khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang trong giai đoạn gay go ác liệt, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh cải cách ruộng đất “... phát động nông dân đấu tranh triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, chia lại công điền ... cho nông dân ... đập tan ưu thế chính trị của địa chủ phong kiến”(1). Lúc này các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, trong đã có Thái Bình vẫn còn nằm trong vùng tạm bị địch chiếm đóng nên chưa đủ điều kiện thực hiện. Riêng ở Đại Hoàng số ruộng đất tập trung trong tay địa chủ Đinh Văn Căn, Chu Văn Đam ở trình nhất, Lý Sách ở đại Hữu là 153,4 mẫu; Tô Thượng Chí 27 mẫu; Hoàng Mạnh Chi 24 mẫu; Nguyễn Quốc Song 20 mẫu; Tô Đình Lộng 10,5 mẫu, Phạm Ánh 30 mẫu và một số địa chủ khác dưới 10 mẫu. Năm 1947 trước sự đấu tranh của nhân dân do Đảng lãnh đạo, địa chủ đã chấp nhận giảm tô từ 25 thùng xuống 20 thùng/mẫu. Bá lệ người cấy tô phải dâng lễ mồng 5 ngày Tết. Năm 1948 chính quyền xã quyết định lấy toàn bộ ruộng đất của địa chủ ngoài xã xâm canh trên đất Đại hoàng để chia cho nông dân. Hoà bình lập lại để thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” thì không có con đường nào khác là thực hiện giảm tô, giảm tức và tiến hành cải cách ruộng đất nhằm xoá bá chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ là chính sách bất di bất dịch” nếu không thực hiện việc tiêu diệt chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ thì không thể tạo ra điều kiện căn bản để phục hồi và phát triển kinh tế(2). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tháng 6/1955 huyện Tiền Hải nói chung, Tây Lương nói riêng, đã triển khai kế hoạch và phát động quần chúng nhân dân thực hiện giảm tô, giảm tức và từng bước chuẩn bị thực hiện cải cách ruộng đất. Vào thời điểm này, tỉnh Thái Bình tiến hành điều chỉnh lại địa giới hành chính của một số xã, trong đã thôn Thượng, thôn Hiên cắt sang cùng An Khang lập thành xã Tây Đô, đồng chí Nguyễn Văn Ký (thôn Hiên) được chỉ định làm Bí thư Chi bộ xã; ông Hoàng Văn Chè (thôn Thượng) được chỉ định làm Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã (sau đó được kết nạp vào Đảng). Các thôn Lương Phú, Tam Đồng, Trung Đồng, thôn Nghĩa lập thành xã Tây Lương. Bà Nguyễn Thị Thắm (Trung Tiến) được kết nạp vào Đảng và làm Bí thư Chi bộ xã, bà Nguyễn Thị Nhẫn (Lương Phú) được chỉ định làm Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã lâm thời. Sau cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân xã, ông Bùi Văn Đức (thôn Nghĩa) được Hội đồng nhân dân xã bầu làm Chủ tịch. Theo kế hoạch công tác giảm tô ở đây được thực hiện qua 3 bước: Bước 1: Phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức. Nhiệm vụ của bước này là nắm tình hình, tuyên truyền chính sách của Đảng, Chính Phủ, ổn định tư tưởng cho quần chúng, tiến hành “bắt rễ”, “xâu chuỗi”. Trong tháng 6/1955, Đoàn Uỷ 1 cử đội công tác về xã, mỗi thôn từ 2 đến 3 cán bộ Phụ trách tiến hành khảo sát, chuẩn bị địa bàn. Cán bộ đội là những cán bộ của Nhà nước được cử về. Họ là những chiến sỹ, sỹ quan quân đội, là cán bộ được Trung ương trưng dụng đi làm nhiệm vụ. Hầu hết là những đảng viên xuất thân từ tầng lớp lao động rất trung thành với cách mạng. Nhân dân ta vốn có lòng tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, vì vậy khi đội về xã làm nhiệm vụ được đông đảo quần chúng quý mến. Từ khi cán bộ đội về xã, mọi quyền hành đều thuộc về Đoàn Uỷ, Ban Chỉ huy đội. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chi uỷ, Uỷ ban hành chính xã mất dần hiệu lực. Vì thế lúc đó dư luận cho rằng “Nhất đội, nhì triê” là vậy. Bỏ qua sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở. Đội tìm hiểu những nông dân có khổ, có thù sâu với đế quốc, địa chủ phong kiến để xây dựng lực lượng cốt cán. Từ đã, đội phân công cán bộ xuống các thôn, xóm “bắt rễ”, “xâu chuỗi” tìm chỗ dựa, thực hiện ba cùng với nông dân. Phát động trong nông dân, giác ngộ để họ hiểu rõ vì sao bị khổ và ai là người bóc lột họ, Những người được bắt rễ đa số là nông dân (bần, cố nông). Khi bắt được rễ, đội thực hiện “xâu chuỗi”, thành lập Nông hội làm chỗ dựa cho quần chúng vùng lên đấu tranh. Bước 2: Đỉnh cao nhất trong cuộc đấu tranh ở nông thôn Tây Lương lúc này là đánh đổ giai cấp địa chủ. Công tác tuyên truyền vận động được đặc biệt coi trọng, ở Tây Lương nói riêng, ở khắp nơi trong huyện nói chung xuất hiện các khẩu hiệu: “Có khổ nói khổ, nông dân vùng lên” “Ngày sản xuất, đêm học tập”. “Kiên quyết đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ thực hiện người cày có ruộng”. Vào các buổi tối, hầu như ở khắp các thôn, xóm trong xã đều tổ chức họp dân để nghe chính sách của Đảng, tố cáo tội ác của giai cấp địa chủ bóc lột và phát hiện những địa chủ bóc lột có nhiều tội ác, không khí căm hin ngựn ngôt xuất hiện ở khắp nơi trong xã. Những tên địa chủ cường hào gian ác bị bắt đưa ra trước đấu trường với sự tham gia của đông đảo nông dân. Và tại đây, người có khổ vạch rõ những thủ đoạn bóc lột của địa chủ, toà án nhân dân đặc biệt xột xử. Những địa chủ đứng ra nhận tội trước dân, xin giảm tô, thoái tô và thanh toán những thứ đã chiếm đoạt của nông dân. Từ trong cuộc đấu tranh này, toàn bộ giai cấp địa chủ trên địa bàn xã đã bị đánh gục, quần chúng nhân dân rất phấn khởi. Bước 3: Thực hiện môc tiêu trong phát động quần chúng bắt địa chủ giảm tô, giảm tức và chia quả thực cho nông dân. Để thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” - ước mơ ngàn đời của nông dân - cải cách ruộng đất ở Tây Lương cũng như ở Tiền Hải là đợt 5 của toàn quốc và là đợt duy nhất của Thái Bình đã được tiến hành đồng loạt. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cải cách ruộng đất, tư tưởng nông dân được phát động rộng rãi. Nhiều bần cố nông hăng hái tố cáo tội ác bóc lột của bọn địa chủ, phú nông. Khắp các thôn trong xã quần chúng nông dân mít tinh, diễu hành hô vang các khẩu hiệu “đả đảo địa chủ gian ác”, “có khổ tố khổ”. Cũng như cuộc vận động giảm tô, giảm tức, thắng lợi của cuộc cải cách ruộng đất ở Tây Lương có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến cuối cùng ở nông thôn bị đánh đổ hoàn toàn cả về kinh tế và uy thế chính trị; ý thức giác ngộ về lập trường giai cấp của nông dân được nâng cao và vững vàng hơn bao giờ hết. Xã Tây Lương (bao gồm thôn Thượng, thôn Hiên, thôn Nghĩa, Lương Phú, Tam Đồng, Trung Đồng) trong đấu tranh giảm tô và cải cách ruộng đất đã quy 48 hộ là địa chủ(1), trong đã có 2 địa chủ cường hào gian ác, 34 địa chủ thường, 12 địa chủ kháng chiến. Tổng số ruộng đất tịch thu, trưng thu của địa chủ trong giảm tô và cải cách ruộng đất ở Tây Lương có 148 mẫu, số ruộng này đã trõ ra 150,4 mẫu dã tịch thu từ năm 1948 của địa chủ ngoài xã (trong đã thôn Thượng 112 mẫu, thôn Hiên 12 mẫu, thôn Nghĩa 5 mẫu, Tam Đồng 29 mẫu). Ngoài ra còn tịch thu 175 gian nhà, 24 con trâu, 1 vòng vàng (8 chỉ), nhiều bàn, ghế, tủ, mâm, nồi, bát, đĩa... Toàn bộ số tài sản trên đều đem chia hết cho nông dân; 100% số hộ nông dân trong xã đều được cấp ruộng đất, nam cũng như nữ (Thôn Thượng mỗi suất 5 sào; thôn Hiên, thôn Nghĩa mỗi suất 3,6 sào; Lương Phú mỗi suất 0,8 sào)(2). Những hộ nông dân có ruộng đất trên mức bình quần được điều chỉnh lại theo phương châm rút gần bỏ xa, lấy tốt bỏ xấu. Ngày cắm thẻ nhận ruộng là ngày thực sự vui mừng khôn xiết của mỗi người dân Tây Lương. Cũng kể từ đây, họ mới thực sự có quyền sở hữu ruộng đất, được tự do cày cấy trên thửa ruộng của mình. Vừa được nhận ruộng đất, lại được chia quả thực như thóc lúa, trâu, bò, nhà cửa, đồ đạc tịch thu từ địa chủ, nông dân Tây Lương nô nức mừng vui được đổi đời, càng đoàn kết theo Đảng quyết tâm giữ vững thành quả cách mạng đã dành được. Tuy vậy, trong quá trình chỉ đạo thực hiện cải cách ruộng đất đã “phạm vào sai lầm nghiêm trọng”, trong đã đặc biệt là quy thành phần đã truy chôp, đấu tố tràn lan, nhất là trong khi kết hợp cải cách ruộng đất với chỉnh đốn tổ chức đã đánh cả vào những cán bộ, đảng viên trung kiên, vì phạm nguyên tắc Điều lệ Đảng và pháp chế dân chủ. Do đã, tuy thời gian tiến hành cải cách ruộng đất ngắn (6 tháng từ thàng 12/1955 đền tháng 6/1956) nhưng đã làm cho tình hình nông thôn Tây Lương trở lên nặng nề, căng thẳng, đời sống tinh thần, tình cảm bị đảo lộn, tình đoàn kết vốn có của nhân dân bị tổn thương nghiêm trọng. Từ khi đội cải cách rút, trong xã xảy ra một số vô lộn xộn gây rối, nghi kỵ bất hoà trong nội bộ nhân dân. Song, Đảng ta đã kịp thời nhận ra sai lầm, khuyết điểm và Trung ương Đảng ra chỉ thị sửa sai. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ, phát huy những thắng lợi đã đạt được, cấp uỷ, chính quyền xã Tây Lương đã kiên quyết sửa chữa những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Thể theo nguyện vọng của nhân dân, được Tỉnh và Trung ương chấp thuận điều chỉnh lại địa giới hành chính xã, thôn Thượng, thôn Hiên tách khỏi xã Tây Đô trở về sát nhập cùng các thôn Nghĩa, Lương phú, Tam đồng, 3 xóm Trung tiến, Nhượng bạn, Hoàn khê là 3 trại lẻ của Đại Hoàng nay nâng lên thành thôn Trung đồng, như vậy xã Tây Lương múi gồm 6 thôn. Tháng 3/1957 Tây Lương tiến hành đại hội toàn thể đảng viên gồm 63 đồng chí, trong đã có 10 đảng viên mới kết nạp trong cải cách ruộng đất, 6 đồng chí từ miền Nam tập kết ra Bắc và một số đồng chí từ quân ngũ trở về. Đồng chí Hào chính trị viên huyện đội Tiền Hải, thay mặt ban thường vụ huyện uỷ đọc quyết định của ban thường vụ về việc thành lập đảng bộ xã Tây Lương trực thuộc huyện uỷ Tiền Hải. Đại hội bầu 13 đồng chí vào ban chấp hành Đảng bộ, đồng chí Bùi Sắt được bầu làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Điều phú bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Châm uỷ viên thường vụ được ban chấp hành phân công làm chủ tịch uỷ ban hành chính xã. Đây là sự kiện quan trọng mốc son sáng người của Đảng bộ và nhân Tây Lương, đánh dấu bước trưởng thành vẻ vang của những người Cộng sản đã bao năm đồng cam cộng khổ cùng nhân dân kháng chiến chống đế quốc Pháp xâm lược, mở ra một chương sử mới trên con đường xây dựng quê huơng. Nhiệm vụ đặt ra lúc này cũng hết sức nặng nề là: lãnh đạo sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất, ổn định tinh thần, tư tưởng, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, gĩư gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội, phục hồi sản xuất, phát triển kinh tế, Từng bước cải thiện đời sống nhân dân, vững vàng bước vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Cán bộ, đảng viên trong xã xác định công tác sửa sai dẫu có khó khăn, phức tạp nhưng đây là nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất cần tập trung tiến hành khẩn trương, kiên quyết và có hiệu qủa. Thư Bác Hồ đăng trên Báo Nhân dân nói về sửa sai được đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong xã truyền nhau đọc. Các thôn trong xã mở các lớp học sửa sai và quán triệt nghị quyết Trung ương lần thứ 10 cho cán bộ, đảng viên nhằm giáo dục và ổn định tư tưởng trong nhân dân với tinh thần “sai đâu sửa đấy”, “không sai không sửa”, “sai việc gì sửa việc ấy”, “việc gì cấp bách sửa kịp thời”... Xuất phát từ tình hình thực tiễn của địa phương, Đảng bộ đã dân chủ thảo luận và đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để thực hiện. Cô thể là trong giảm tô và cải cách ruộng đất, Tây Lương đã xử trí, có người bị truy bức quy là “quốc dân đảng” bị đình chỉ sinh hoạt nay được phục hồi, có cán bộ, đảng viên bị bắt giam đầy ải nay được minh oan, được trả tự do, được Đảng uỷ, chính quyền, đoàn thể cùng gia đình và nhân dân xúa bá án, khôi phục danh dự trong niềm xúc động, đoàn kết; các Ban Chỉ uỷ được kiện toàn, những đồng chí năng lực yếu, ít tín nhiệm phải nghỉ việc hoặc chuyển công tác, vai trò lãnh đạo của Chi uỷ, Chi bộ từng bước được củng cố. Về hạ thành phần và đền bù tài sản là việc khó khăn phức tạp, vì trước đây ở Tây Lương đã truy bức, quy kết, gũ áp cho đủ số địa chủ theo tỷ lệ áp đặt. Nay thực hiện phương châm kiên quyết, khẩn trương, thận trọng và vận dụng đúng đắn đường lối nông thôn của Đảng, đảm bảo các bước hạ thành phần, đền bự tài sản có lý có tình cho người bị quy sai và lợi ích của người lao động(1). Vì vậy, phần lớn những người nhượng ra đều thông cảm với những thiệt thũi của người bị quy sai nên đều tự nguyện, trõ một vài trường hợp đã dì mang đi nơi khác. Còn những người bị quy sai, nay được minh oan và đền bự tài sản, tuy chưa thật tháa mãn nhưng phần lớn rất cảm thông với hoàn cảnh. Vì vậy, tình hình nông thôn Tây Lương lúc này hầu như đã xoá bỏ được những xích mích, thành kiến mặc cảm, nghi kỵ. Những khuyết điểm, sai lầm trong giảm tô và cải cách ruộng đất tuy đã gây ra những tác động xấu trong xã, song những thành tựu đạt được là cơ bản. Sau cải cách ruộng đất, nông dân trong xã có ruộng cấy, trâu cầy, ai nấy phấn khởi; giai cấp địa chủ phong kiến cùng với chế độ chiếm hữu ruộng đất của chúng bị xoá bỏ. Khẩu hiệu “người cày có ruộng” đã trở thành hiện thực. Nhân dân lao động càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Thắng lợi trong giảm tô và cải cách ruộng đất đã tạo bước chuyển biến quan trọng cả về chính trị, kinh tế và văn hóa - xã hội trong đời sống vốn rất phong phú của nhân dân Tây Lương. Và mặc dự mắc sai lầm trong tổ chức thực hiện song do Đảng ta đã thẳng thẵn nhận khuyết điểm và “sửa chữa kịp thời” nên đã được nhân dân tin tưởng, ủng hộ. Đến tháng 7/1957 Tây Lương nói riêng, Tiền Hải nói chung đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ sửa sai; tình hình nông thôn, nông dân nhanh chóng trở lại ổn định, hoạt động của Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng được củng cố, từng bước được tăng cường.

3- Khôi phục kinh tế, Từng bước ổn định đời sống nhân dân Sau những năm kháng chiến gian khổ, nền kinh tế của xã gặp vô cùng khó khăn do hậu quả của chiến tranh gây ra, nông thôn Tây Lương xơ xác, tiêu điều, toàn xã có gần 90% số hộ nông dân thiếu lương thực. Nhiều diện tích ruộng đất bị bỏ hoang, trâu, bò, nông cụ phục vụ cho sản xuất còn không đáng kể (thôn nhiều nhất có từ 3 đến 5 con; thôn ít chỉ có 1 hoặc 2 con). Đã vậy, thời tiết trong những năm 1955 - 1957 diễn biến phức tạp: cuối năm 1955, đầu năm 1956 hạn hán kéo dài, nhưng năm 1957 lại mưa úng. Trước thực trạng đã, được sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ, cấp uỷ đã xác định nhiệm vô quan trọng hàng đầu lúc này là phục hồi sản xuất, phát triển kênh tế; đây là nhiệm vô khó khăn, vừa có tính bức thiết, vừa có tính lâu dài nhằm giải quyết vấn đề lương thực cứu đói cho nhân dân, đồng thời tạo Tiền đề thực hiện tốt các nhiệm vô chính trị khác. Trong lãnh đạo, chỉ đạo phục hồi sản xuất, cấp uỷ đã phân công công tác cho từng đảng viên và các đoàn thể, trong đã Đoàn Thanh Niên xung phong đi đầu trong phong trào làm thuỷ lợi; Hội Phụ nữ động viên chị em cấy hết diện tích, cấy kịp thời vô; đặc biệt Nông hội đảm nhận nhiệm vô đẩy mạnh củng cổ tổ đổi công, khai hoang, phục hóa... để tăng thêm diện tích cày cấy, tăng năng suất cây trồng, củng cố tình đoàn kết trong nhân dân và ổn định nông thôn, góp phần nầng cao chất lượng hoạt động của Nông hội, Đoàn Thanh Niên, Hội Phụ nữ, cải tạo quan hệ sản xuất ở nông thôn. Để tiếp tục nêu cao tinh thần đoàn kết, tự lực cánh sinh, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho nhau, nhân dân trong xã đã thực hiện tương trợ giúp đỡ lẫn nhau về thúc giống, cây giống, ngày công, sức kéo... để mở rộng sản xuất. Vì vậy, số ruộng đất bị bỏ hoang từ trong chiến tranh như ở thôn Thượng, thôn Hiên, thôn Nghĩa… nay được cải tạo và đưa vào canh tác đem lại hiệu quả thiết thực. Cùng với khai hoang, mở rộng diện tích, vấn đề thuỷ lợi cũng được đặc biệt quan tâm, cấp uỷ, chính quyền đã tổ chức và động viên nhân dân nạo vét một số ngũi, rạch ở cánh đồng cao thôn Nghĩa ra cống Đại Hoàng và một số sông, ngòi thuộc xứ đồng thôn Thượng, thôn Hiên qua thôn Nghĩa ra cống Đại Hoàng và sông Hàng huyện với hàng trăm ngày công. Nhờ làm tốt công tác thuỷ lợi, sản xuất nông nghiệp tăng cả về diện tích và sản lượng, từ đó tạo điều kiện cho chăn nuôi có bước chuyển biến. Số trâu, bò, lợn và gia cầm hàng năm tăng đáng kể. Được Nhà nước hỗ trợ cho vay vốn, một số trâu, bò từ các tỉnh được mua về cùng với trâu, bò hiện có đã cơ bản đảm bảo đủ sức kéo, phân bón cho sản xuất nông nghiệp. Do có nhiều cố gắng trong khôi phục kinh tế, nạn đói ở Tây Lương dần dần được đẩy lùi, đời sống nhân dân Từng bước được cải thiện.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong II-1)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH :: Linh Tinh Khác :: Kiến Thức Tổng Hợp-
Chuyển đến