CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH

NƠI GẶP GỠ CÁC BẠN CÙNG KHÓA, CÙNG TRƯỜNG, CÙNG QUÊ VÀ CÁC THẦY CÔ TRÊN KHẮP MỌI MIỀN
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
February 2018
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728    
CalendarCalendar
Social bookmarking
Social bookmarking digg  Social bookmarking delicious  Social bookmarking reddit  Social bookmarking stumbleupon  Social bookmarking slashdot  Social bookmarking yahoo  Social bookmarking google  Social bookmarking blogmarks  Social bookmarking live      

Bookmark and share the address of CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH on your social bookmarking website
Top posting users this month
Most active topics
NGUYỄN NGỌC BẢO VÀ CỰU HỌC SINH K76-79 GẶP NHAU Ở SÀI GÒN
Chùm thơ Phan Sĩ Phú
gặp mặt thường niên 2013 tại Sóc Sơn
Gặp mặt kỷ niệm 35 năm ra trường K76-79 (16-11-2014) tại Trường
ĐÁM CƯỚI CON TRAI CỦA HƯƠNG LỚP G TẠI TP.HCM
Lễ Vu Quy Con Gái Anh Khoa (lớp C) ở Hà Nội
HÌNH ẢNH KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY RA TRƯỜNG HỘI CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 TRƯỜNG PT CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Mời các bạn cựu HS cấp III Tây Tiền Hải khóa 76-79 gặp gỡ tại Vĩnh Phúc
Truyện ngắn 100 chữ
DANH SÁCH CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Latest topics
» Chúc mừng năm mới
Thu Mar 24, 2016 9:36 pm by buitiendung

» Chào xuân Bính Thân
Wed Feb 03, 2016 10:26 pm by buitiendung

» Chia buồn với gia đình bạn Phan Quốc Sự
Wed Jan 20, 2016 11:23 am by phanquocsu

» Thông báo mới
Wed Jan 20, 2016 11:22 am by phanquocsu

» Danh sach G
Wed Dec 30, 2015 4:30 pm by phanquocsu

» Thông báo khẩn
Fri Nov 20, 2015 10:49 pm by buitiendung

» Thông báo mời gặp mặt K76-79 trường TT Hải Năm 2015
Tue Oct 06, 2015 10:44 pm by buitiendung

» Thân gửi các bạn!
Sun Sep 27, 2015 8:41 pm by buitiendung

» Kỷ niệm 30 năm ra trường Hội HS K76-79 Cấp 3 Tây Tiền Hải
Fri Aug 21, 2015 11:35 pm by buitiendung

Keywords
Poll
Statistics
Diễn Đàn hiện có 62 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: Mrgift

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 772 in 271 subjects

Share | 
 

 Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong I)

Go down 
Tác giảThông điệp
buitiendung
Admin


Tổng số bài gửi : 158
Join date : 26/10/2012
Age : 55
Đến từ : Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong I)   Thu Jul 04, 2013 10:27 pm

CHƯƠNG MỘT PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG PHONG KIẾN CƯỜNG QUYỀN ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945 VÀ CÙNG CẢ NƯỚC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1930 - 7/1954)

I- PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG PHONG KIẾN CƯỜNG QUYỀN VÀ NẠN ĐÓI Ở TÂY LƯƠNG NĂM 1945 1- Bối cảnh kinh tế - xã hội ở Tây Lương trước cách mạng tháng 8-1945 Trước những năm 1930, khi chưa có Đảng, nhân dân cả nước nói chung, người dân Tây Lương nói riêng sống trong cảnh “một cổ hai tròng” dưới hai tầng áp bức của đế quốc và phong kiến. Ruộng đất là nguồn sống chính của người nông dân, nhưng trong tay họ chẳng có được là bao. Dưới thời Pháp thuộc, chỉ có đàn ông từ 18 tuổi trở lên mới được cấp ruộng; đàn bà, con gái không được cấp. Đã vậy, số ruộng cấp cho một suất đinh cũng không đủ nuôi sống họ, chứ chưa nói tới việc nuôi sống gia đình. Ở Lương Phú mỗi suất đinh chỉ được cấp 7 miếng(1). Ở Đại Hoàng, địa chủ Tô Thượng Chí chiếm 27 mẫu ruộng, Hoàng Mạnh Chí chiếm 24 mẫu, Nguyễn Quốc Song chiếm 20 mẫu và, Phạm Ánh 30 mẫu. Bọn địa chủ ở các nơi khác ỷ vào thế lực, chức quyền dựng nhiều thủ đoạn chiếm đoạt không kém gì địa chủ sở tại, thậm chí còn nhiều hơn. Ví như Chu Văn Đam thôn Trình Nhất chiếm 119 mẫu; Đinh Văn Căn thôn Trình Nhất (Cửu Roanh) chiếm 18 mẫu, Lý Sách Thôn Đại Hữu chiếm 16 mẫu 4 sào. Bảy tên địa chủ kể trên đã chiếm đoạt 247 mẫu 2 sào ruộng, đã là chưa kể đến số địa chủ, phú nông chiếm đoạt từ 10 mẫu trở xuống. Tình trạng cướp đoạt ruộng đất của bọn địa chủ đã đẩy người nông dân Tây Lương đến chỗ nghèo đói, cùng cực, họ phải lam lũ, cực nhọc quanh năm mà vẫn đói rách. Thêm vào đã là tình cảnh làng xóm trở nên tiêu điều xơ xác, đường làng, ngâ xóm lầy lội, người và trâu, bò lầm lũi, dò dẫm từng bước mỗi sớm, mỗi chiều kiếm sống qua ngày. Nhà cửa của người dân lao khổ ở đây là những túp lều tranh, tường đất, chật chội, ẩm thấp với những đồ dùng bằng đất nung: nồi đất, ấm đất, chậu đất.... Hầu hết trong các gia đình nông dân chỉ có giường tre, giường xoan, Mùa đông không chăn, Mùa hè không màn, trẻ, già, trai, gái quanh năm tứ thời đi chân đất. Hãn hữu có người lấy gốc tre, gỗ xoan đẽo thành guốc gộc, quai bện bằng rợ chuối. Cả huyện mới có một nhà thương, dân nghèo ốm đau đành chịu chết hoặc chịu cảnh “ốm no bò dậy”. Phụ nữ sinh đẻ cũng ở ngay tại nhà, nhờ các bà “đỡ vườn” và họ thường dựng Lưỡi hái, Lưỡi Liềm để cắt rốn cho trẻ. Đời sống dân tình khốn khổ là vậy, giai cấp thống trị lại thực hiện chính sách ngu dân nên con em nông dân chẳng mấy ai được học hành. Cả Tổng mới có một trường hương sư dành cho con trai những nhà giàu có. Cả làng cũng chỉ có mươi người biết chữ, trong số họ chỉ có vài người viết được văn tự (đơn cầm, bán ruộng đất, vật dụng...). Phẫn nộ trước sự hà khắc của bọn đế quốc, phong kiến nhiều người đã tự phát đấu tranh chống áp bức, bóc lột nhưng không đem lại kết quả. Bất lực trước cường quyền phong kiến, nhiều người đã phải bỏ đi tha phương cầu thực ở khắp mọi miền, cả những nơi “rừng thiêng nước độc”, nơi đồn điền cao su hay hầm mỏ.... nhưng đói khổ vẫn bám riết, nhiều bà con của quê hương ta ra đi đã phải vĩnh viễn nằm lại nơi đất khách quê người. Giữa lúc nhân dân đang rên xiết trong đêm trường nô lệ ấy, thì ánh sáng cách mạng đã đến với Tây Lương. Cô Tô Đình Thô người đầu tiên của làng Đại Hoàng đã sớm tiếp thu được ánh sáng cách mạng của Đảng do Nguyễn Công Thu - người làng Động Trung (Kiến Xương) có mối quan hệ thân gia – đã bắt mối Tuyên truyền xây dựng cơ sở. Đến cuối năm 1926, đồng chí Vũ Trọng đã Tuyên truyền điều tra, lựa chọn được 7 người để kết nạp vào tổ chức “Việt Nam thanh Niên cách mạng đồng chí Hội” và để giữ bí mật đã họp ở nhà đồng chí Thô (Đại Hoàng) gồm các đồng chí Đỗ Liễn, Đỗ Rương, Vũ Trọng, Ngô Long, Đỗ Giám, Ngô Lân, Tô Đình Thô (Đại Hoàng) lấy bí danh là: Nhàn, Lai, Vô, Sự, Bất, Thung, Dung; Chi bộ do đồng chí Đỗ Liễn (Nhàn) làm Bí thư(1). Tại cuộc họp này, mọi người đã nắm chặt tay thề cùng trời đất, nguyện sinh tử có nhau, nhất tâm, đồng chí, đi theo còn đường yêu nước và cách mạng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Nhưng lý tưởng cách mạng vừa đến với Tô Đình Thô chưa được bao lâu thì đồng chí lâm bệnh qua đời. Đống chí mất sớm là một tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng của địa phương, 2- Phong trào đấu tranh chống phong kiến cường quyền và nạn đói ở Tây Lương năm 1945 Kể từ khi tổ chức Thanh Niên cách mạng đồng chí Hội đầu tiên xuất hiện, cho đến khi thành lập Đảng, những tư tưởng cách mạng bằng nhiều con đường khác nhau đến với nhân dân Tây Lương. Nhất là trong thời kì Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936 - 1939), với chủ trương chống phản động thuộc địa, chống chiến tranh, đòi tự do cơm áo hoà bình đã thức tỉnh tinh thần đấu tranh của nhân dân Tây Lương, cổ vũ họ đứng lên chống áp bức, bất công, chống phong kiến cường quyền. Vào năm 1937 - 1938, ông Tô Đình Chất là người đầu tiên của địa phương mở đầu cuộc đấu tranh bằng vô kiện địa chủ Chu Văn Đam về việc y lợi dụng quyền lực định chiếm đoạt ruộng đất của ông. Số là trước đã, gia đình ông Chất gặp khó khăn nên phải bán độ (bán tạm) cho địa chủ Đam 1 mẫu 7 sào ruộng tư điền, ba năm sau, địa chủ Đam tìm cách tính toán lãi mẹ đẻ lãi con để chuyển số ruộng của ông Chất từ hình thức bán độ thành bán đoạn (bán đứt) hũng chiếm đoạt số ruộng đã. Được bà con nhân dân ủng hộ, lại được một số bạn bố có quyền thế giúp đỡ, Tô Đình Chất đã thắng kiện. Việc Chu Văn Đam, một tên địa chủ giàu nhất trong vùng, trong tay lại có đủ quyền lực mà chịu thua kiện lan truyền khắp các làng đã làm giảm sút uy quyền của y cũng như tập đoàn địa chủ ở địa phương. Hành động của ông Tô Đình Chất tuy là tự phát nhưng là đòn đầu tiên đánh vào bọn địa chủ phong kiến trong vùng, đồng thời nó tạo Tiền đề mở đường cho một phong trào đấu tranh rộng lớn hơn ở giai đoạn tiếp theo. Năm 1936 – 1939, Mặt trận bình dân Pháp dành quyền thắng lợi ở chình quốc đã có ảnh hưởng lớn đến các nước thuộc địa. Ngày ấy cô Tô Đình Hòe là sinh viên đã hăng hái tham gia các phong trào của Mặt trận Dân chủ Đông Dương như: vận động quần chúng nhân dân Thành phố Hà Nội đi đãn Gúttên – Gôđa (đại diện Mặt trận bình dân Pháp) để tập hợp dân nguyện. Cô còn tích cực cộng tác viết bài cho các báo công khai của Đảng Cộng sản: Báo Lao động, Tập hợp, Tiến lên…; sau đã cô làm chủ bót báo Nosterevai (tiếng nói chúng tôi). Do những hoạt động đã, cô bị chính quyền thực dân Pháp đóng cửa tờ báo và trục suất cô khỏi Hà Nội. Trở về làng, cô có điều kiện gần gũi quần chúng lao động, được gặp gỡ những cô trong làng như cô, Nguyễn Hạp, cô Tuần Ly (thôn Hiên), cô Quản Huệ, (thôn Thượng), cô Khuy (thôn Nghĩa)… là những người biết được mánh khóe của bọn kì hào, lý dịch địa phương như chúng dựng thủ đoạn khai khống những ấu đinh chưa đến tuổi 18, những người đi xa (tha vãng) và có những người đã chết đưa vào danh sách sổ đinh để cấp ruộng khóa tới. Chúng còn tăng thuế sưu (thuế thân) từ 2 đồng 5 hào lên 3 đồng 5 hào/người. Cô thấy việc làm trên của bọn kì hào là chốn áp dân, chiếm đoạt ruộng đất của làng. Phẫn nộ trước những hành vi tham nhũng ấy của chúng, cô viết đơn kiện Chánh tổng Tô Xuân Huệ và Lý trưởng Hoàng Cư. Sáng ngày 25/5/1940 (Canh Thìn), vô kiện được xử công khai tại đình thôn Thượng (làng Đại Hoàng). Tại phiên xử có: Chánh sứ người Pháp Vavatsơ. Chánh mật thám Pháp Đilooc. Tổng đốc Thái Bình: Hà Lương Tín. Tri huyện Tiền Hải: Nguyễn Quang Tạo. Bên khởi tố có cô Tô Đình Hòe cùng những người cộng sự với cô, những cô tộc biểu của các dòng họ trong làng. Bên bị đơn có Chánh tổng Tô Xuân Huệ, Lý trưởng Hoàng Cư và những vị chức sắc trong bộ máy kì hào. Suốt trong phiên xử, cô Tô Đình Hòe nói hoàn toàn bằng tiếng Pháp, khi cô vẫy tay ra hiệu thì cô Tuần Ly đưa cháu Nguyễn Ký 14 tuổi (ấu đinh) đứng lên trình. Đây là 1 trong nhiều nhân chứng khai man. Nhân chứng đã rõ và số liệu xác đáng, bọn kì hào phải chịu cúi đầu nghe lời Tuyên phạt của Tri huyện Nguyễn Quang Tạo. Chánh tổng Tô Xuân Hôi và Lý trưởng Hoàng Cư phải “lạc lênh tư dịch” (cho thôi việc). Phiên xử kết thúc, thắng lợi thuộc về nhân dân, kết quả đã lấy ra được 23 mẫu 5 sào ruộng và 71 suất đinh ẩn lậu, tiền sưu năm ấy dân náp đúng quy định là 2 đồng 5 hào/người. Sự kiện đấu tranh chống cường quyền áp bức, chống phự thu lạm bổ năm 1940 do cô Tô Đình Hòe khởi tố đã thắng lợi, trong đã có công lao đóng góp to lớn của nhân dân trong làng. Thắng lợi này đã tạo được tiếng vang rộng lớn trong vùng. Sau sự kiện ít ngày, chúng đưa ô tô về dẫn cô Hòe lên tỉnh gặp quan Chánh sứ “có việc” nhưng thực sự là chúng tiêm thuốc hãm hại, khi ô tô đưa về thì cô bị mất trí đến tháng 3/1950 cô mất(1). - Tháng 10 năm 1940 có cuộc diễn thuyết tuyên truyền cách mạng ở (mốc đá) nơi giáp ranh ba làng: Lương phú, Lạc Thành, Vĩnh Ninh có cờ đỏ búa liềm và truyền đơn do cô bà Chánh thông ở Lương Phú Giao cho ông Hoàng Ngật người cùng làng thực hiện. Đến khi có tiếng (tự và) thổi, tiếng trống đánh ngũ Liên ở ba làng nổi lên "cuộc diễn thuyết" giải tán. Lính cơ trên huyện về lùng sục nhưng không phát hiện được gì nên chúng không quy kết cho làng nào

Nạn đói năm Ất Dậu (1945)

Sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn địa chủ phong kiến, nhân dân ta vô cùng cực khổ, nhất là sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), tình hình mọi mặt ngày càng trở nên rối ren, đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động trong cả nước nói chung, ở Tây Lương nói riêng càng lâm vào cảnh bần cùng, khốn quẫn. Khắp nơi nạn đói hoành hành, riêng Thái Bình có hàng chục vạn người chết đói. Cũng như nhân dân trong tỉnh, trong huyện, nhân dân Tây Lương sống trong cảnh làng xóm xơ xác, tiêu điều, đến củ chuối cũng không có để ăn; trong các làng, xóm qua mỗi đêm lại thêm bao người chết đói. Nhiều người trong lúc đã hơi tàn, sức tận vẫn cố lê lết đến cổng nhà giàu, chi chủ nhà mở cổng để xin ăn, hoặc nếu có chết thì chủ nhà còn thuê khoán người lôi đi chôn. Khi lúa chiêm chín, lại thêm một số người nữa bị chết. Trong nạn đói này, có gia đình cả con, cháu tới 23-24 người chết không còn một ai. Nhiều chi, dài họ chỉ còn một vài gia đình. Hậu quả của nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945) ở Tây Lương đã bị chết 3.968 người , chiếm 2/3 dân số (theo số Liệu thống kê của các dòng họ)(1).

II- CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945 THÀNH CÔNG, NHÂN DÂN TÂY LƯƠNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN, XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN 1- Cách mạng tháng Tám và việc thành lập chính quyền nhân dân Trong không khí sôi động giành chính quyền ở khắp nơi trong tỉnh, trước ngày khởi nghĩa ở huyện Tiền Hải, đồng chí Tô Quốc Tuý được trên cử về Đại Hoàng để Tuyên truyền tập hợp lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa. Sáng ngày 22/8/1945, nhân dân kéo ra tập trung tại đình thôn Thượng, tiếp đó nhân dân từ Lương Phú kéo lên, từ các nơi đổ về, mỗi người một thứ vũ khí thô sơ (gậy tày, dao, kiếm) đã hăng hái cùng các xã kéo lên giành chính quyền ở huyện Tiền Hải, trước đã mấy ngày tri huyện Đoàn Đình Rạng đã chạy trốn, nên Thâa Ru đứng ra bàn giao chính quyền cho lực lượng cách mạng. Giành được chính quyền ở huyện, đoàn người lại tủa ra các ngả kéo về giành chính quyền ở làng. Chính quyền cách mạng lâm thời ở hai làng: Đại Hoàng, Lương Phú được thành lập. Trước đông đảo quần chúng nhân dân, bọn kì hào, lý dịch ở hai làng đã phải dâng toàn bộ sổ sách, giấy tờ và đồng triện cho chính quyền cách mạng lâm thời. Từ đã nhân dân ta cùng với nhân dân cả nước sống trong độc lập, tự do, làm chủ vận mệnh của mình. Những ngày đầu sau cách mạng, có biết bao công việc đặt ra cho chính quyền nhân dân phải giải quyết đã là củng cố chính quyền còn non trẻ vừa được thành lập, xây dựng các đoàn thể quần chúng: Thanh Niên, Phụ nữ, Nông hội, Mặt trận; đẩy mạnh tặng gia sản xuất.... ở Đại hoàng, Lương phú, cùng với các nhiệm vô nói trên, một trong những công việc sôi động nhất là cuộc vận động xúa nạn mự chữ. Thấm nhuần Lời dạy của Hồ Chủ tịch: diệt giặc đói, giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm, mọi người dân : trẻ, già, trai, gái đều hăng hái tham gia phong trào bình dân học vô. Thực hiện phương châm “người biết chữ dạy người chưa biết chữ” ngày cũng như đêm khắp các thôn xóm đều xuất hiện các lớp dạy chữ. Trong hoàn cảnh thiếu thốn nhưng lớp học nào cũng đông vui. Nơi thiếu bàn thì dựng phản nằm, cánh cửa, thậm chí kê lên hai đầu gối thay bàn. Thầy thiếu bảng thì viết lên tường, lên phên liếp; thiếu phấn thì dựng gạch non; thiếu giấy thì cả thầy và trò viết lên nền nhà, sàn nhà, sân đình... Khó khăn như vậy nhưng không một ai nản lòng. Nhiều ông bà già tay đã run nhưng vẫn kiên nhẫn tô cho đúng nét chữ viết mẫu bằng bót chì của thầy giáo. Với quyết tâm và lòng nhiệt tình đó, chỉ sau một năm thực hiện Lời dạy của Bác Hồ, nhân dân Tây Lương từ chỗ hàng trăm người mới chỉ có vài ba người biết chữ, đến năm 1949 gần 100% số người trong độ tuổi đã biết đọc, biết viết. Mỗi người đã có thể tự mình viết vào lá phiếu bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp. Do có nhiều thành tích trong phong trào “diệt dốt” nhân dân Tây Lương đã góp phần cùng nhân dân trong huyện, trong tỉnh được Hồ Chủ tịch tặng sổ vàng danh dự về thành tích thanh toán nạn mù chữ sớm nhất cả nước. Cùng với cuộc vận động thanh toán nạn mự chữ, trong những năm sau cách mạng còn diễn ra phong trào mua công trái kháng chiến và tuần lễ vàng rất sôi nổi. Hầu hết các gia đình trong xã không phân biệt giầu, nghèo tùy theo khả năng của mình đều nhiệt tình hưởng ứng phong trào. Nhiều người tự nguyện tháo gì những chiếc nhẫn, vòng tay, hoa tai và đồ trang sức bằng vàng của mình hiến vào công quỹ mong được góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phong trào mua công phiếu có nhiều tấm gương tiêu biểu như ông Bùi Lâm Pháng (thôn Nghĩa), ông Tô Đình Cẩu (thôn Thượng). Vợ con ông Cẩu đều bị chết đói năm 1945, ông sống một mình, khi phong trào mua công phiếu được phát động, ông bán hết nhà cửa, lấy toàn bộ số Tiền đã mua công phiếu kháng chiến. Tấm gương của hai ông Bùi Lâm Pháng và Tô Đình Cẩu đã được biểu dương trong một cuộc mít tinh toàn huyện(1). Nhờ có tinh thần nhiệt tình cách mạng và những tấm lòng yêu nước đáng quý đã, nhân dân Tây Lương đã cùng với nhân dân trong huyện đóng góp một phần đáng kể công, của của mình vào ngân quỹ quốc gia và cùng với nhân dân cả nước khắc phục mọi khó khăn, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho “cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ nhất định thắng lợi”(2). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền cách mạng ở địa phương đã đảm nhận trách nhiệm nặng nề là lãnh đạo nhân dân hăng hái xây dựng chế độ mới, đấu tranh chống thự trong giặc ngoài và thu được những thắng lợi quan trọng. Song lúc này trước những đòi hái bức thiết của nhiệm vô cách mạng trong giai đoạn mới, đồng thời xột thấy cũng đã có đủ điều kiện để tiến tới thành lập một tổ chức Đảng để tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương tiến lên.

2- Chi bộ Đảng thành lập Năm 1946, đồng chí Tô Đình Thám là công nhân hoả xa và là đảng viên cộng sản từ Bắc Giang trở về địa phương và đồng chí Vũ Văn Thuật thôn Lương Phú đảng viên ở nơi khác về cả hai đồng chí là hai đảng viên đầu tiên của xã Đại Hoàng và xã Duy Tân. Các đồng chí là một trong những nhân tố tích cực tham gia chuẩn bị cho việc thành lập Chi bộ Đảng ở địa phương. Năm 1947, thực hiện chủ trương của Tỉnh, xã Hưng Đạo được thành lập gồm Đại Hoàng, Trà Lý, Tam Đồng, Lương Phú, Vĩnh Ninh, Đại Hữu và Lạc Thành. Cũng năm 1947, Chi bộ Đảng Hưng Đạo được thành lập gồm 7 đảng viên do đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu làm Bí thư. Ba tháng sau, đồng chí Lý Tuân được chỉ định làm Bí thư Chi bộ thay đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu. Đồng chí Tô Đình Thám tham gia cấp uỷ trong khoá này và được phân công làm Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh(1). Cuối năm 1947, có thêm 4 đồng chí được kết nạp vào Đảng là Hoàng Đoàn (đội Đoàn), Hoàng Văn Nức, (thôn Nghĩa), Vũ Văn Rĩu (Lương Phú) và Tô Đình Xước (thôn Thượng). Đồng chí Vũ Thuật vẫn tiếp tục làm Chủ tịch xã Hưng Đạo. Đồng chí Đoàn thay đồng chí Tô Đình Thám làm Chủ nhiệm Việt Minh; đồng chí Hoàng Nức được cử làm Bí thư Chi bộ thay đồng chí Lý Tuân và đồng chí Tô Đình Xước làm trung đội trưởng trung đội du kích của Đại Hoàng. Năm 1948, thực hiện chủ trương của trên, công tác phát triển Đảng được đẩy mạnh, những quần chúng tích cực xuất sắc, tiêu biểu trong các phong trào được bồi dưỡng trở thành đảng viên. Vì vậy, hầu như tháng nào Chi bộ cũng tổ chức kết nạp đảng viên mới. Tháng 3/1949 ở Đại Hoàng, Lương Phú (Và tam đồng) đã có 125 đảng viên. Như vậy là chỉ sau một thời gian tổ chức cơ sở Đảng ở địa phương đã được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, đủ khả năng đảm nhận vai trò lãnh đạo phong trào, đáp ứng mọi yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Trên cơ sở số đảng viên phát triển, Chi bộ đã phân công đảng viên tham gia vào hầu hết các vị trí chủ chốt trong bộ máy chính quyền và các tổ chức đoàn thể: Mặt trận, Thanh Niên, Phụ nữ... tạo tiền đề quan trọng để chính quyền, đoàn thể được củng cố vững chắc vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vô chính trị được giao. Việc phát triển kinh tế, văn hóa và các hoạt động khác của địa phương đều được quan tâm đẩy mạnh, tích cực góp phần cho việc chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, cùng nhân dân trong huyện và nhân dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến. Từ năm 1947 đến 1949 nhân dân thôn thượng, thôn Hiên, thôn Nghĩa và các xóm trại đã nhường nhà, tạo mọi điều kiện cho đơn vị quân giới "Phan Thanh" chế tạo vũ khí của quân khu III ở và làm các kho tàng chứa đựng vật liệu, máy móc, Phụ kiện sản xuất để chế tạo vũ khí. Lực lượng dân quân du kích các thôn đảm nhiệm tuần tra ban đêm, canh gác ban ngày 24/24 giờ kiểm tra, kiểm soát người lạ mặt đến làng. Công tác phòng gian bảo mật được giáo dục tuyên truyền đến mọi lứa tuổi, tầng lớp nhân dân với nhiều hình thức như phổ biến quán triệt tầm quan trọng ở các cuộc họp, thông tin phát thanh tuyên truyền, viết kẻ những băng biển khẩu hiệu áp phích trên các đường làng ngâ xóm, nơi công cộng nhằm làm cho mọi người thấm nhuần thực hiện phương châm 3 không là: không biết, không nghe, không thấy nhất là với người lạ mặt, nhắc nhở mọi người:" Nhớ câu tai vách, mạch rừng, phòng gian bảo mật xin đừng chủ quan". Việc rào làng chuẩn bị kháng chiến là lợi ích thiết thực, có hiệu quả đối với việc phòng gian bảo mật giữ được an toàn cho công binh bộ đội và cả nhân dân.

3- Chi bộ lãnh đạo nhân dân chuẩn bị mọi mặt để kháng chiến Từ sau ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), chiến tranh đã lan ra hầu khắp các tỉnh đồng bằng Liên khu Ba nhưng Thái Bình vẫn còn là vùng tự do. Chấp hành đường lối kháng chiến của Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, xuất phát từ thực tờễn của địa phương, ngay từ đầu năm 1947 trở đi, khắp nơi trong tỉnh, quân và dân Thái Bình bước vào thời kì chuẩn bị kháng chiến. Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ Thái Bình và Huyện uỷ Tiền Hải, Chi bộ xã Hưng Đạo đã tổ chức lãnh đạo nhân dân trong xã khẩn trương, chủ động thực hiện hàng loạt những công việc lớn để chuẩn bị cho kháng chiến. Trước hết là xây dựng và phát triển lực lượng dân quân du kích. Các trung đội dân quân du kích được thành lập và tiến hành luyện tập quân sự. Ban Chỉ huy xã đội và các thôn đội được kiện toàn và tăng cường về số lượng cũng như năng lực lãnh đạo. Cấp uỷ đã cùng Ban Chỉ huy xã đội, thôn đội chủ động xây dựng các phương án tác chiến đánh địch giữ làng, đồng thời phát động nhân dân quyên góp tiền mua sắm vũ khí trang bị cho dân quân du kích. Đi đôi với việc xây dựng lực lượng dân quân, du kích, cấp uỷ Đảng, chính quyền còn tổ chức nhân dân đào đường, đắp ô để chặn xe cơ giới của giặc. Trên các trục đường chính cứ mỗi đoạn lại đào một hố rộng và sâu, cắt ngang đường, trên miệng hố được đắp thành ô cao. Trong các làng, xóm hệ thống giao thông hào dọc, ngang chằng chịt được hình thành, cùng với hàng trăm, hàng nghìn hầm hố phục vô chiến đấu, tránh bom đạn của địch nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Có thể nói, mọi công việc được tiến hành hết sức khẩn trương không chỉ ban ngày mà cả ban đêm nhân dân thắp đốn, đốt đuốc đào hầm, hố. Mọi người dân trong xã đã không tiếc tiền của, công sức trong việc đóng góp vào công cuộc chuẩn bị kháng chiến. Nhà nào cũng có người đi đào hào, đắp ụ, nhiều gia đình có bao nhiêu lao động là bấy nhiêu người tham gia; công việc chuẩn bị để kháng chiến cứu quốc kéo dài hàng tháng, hàng mấy tháng nhưng không một ai do dự, nản chí, sin lòng bất cứ ở đâu và lúc nào cần làm việc gì đều có đủ lực lượng nhân dân tham gia tích cực với tinh thần “tất cả cho kháng chiến”. Cùng với đầu tư công sức, nhân dân ta còn góp hàng ngàn, hàng vạn cây tre, cây xoan để cắm kè ngăn sông Trà Lý, cản tàu địch và rào làng kháng chiến. Các con đường vào làng, vào xóm đều được nhân dân làm cổng bằng nhiều lớp tre kiên cố. Để hạn chế thiệt hại khi có chiến sự xảy ra, các phương án phục vô chiến đấu, cất dấu thúc lúa, trâu, bò, lợn, gà... kết hợp với việc thực hiện vườn không, nhà trống và tiêu thổ kháng chiến được vạch ra rất cô thể, được quán triệt từ trong Đảng đến các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân. Các tổ chức phục vụ kháng chiến cũng được thành lập như Ban bảo vệ người già yếu, Ban bảo trợ thiếu Niên nhi đồng, Ban hướng dẫn tản cư... Ngoài ra, cấp uỷ, chính quyền còn lên danh sách dự kiến số người đi tản cư, số người ở lại tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Đầu năm 1949, chiến sự đã đến gần(1), Chi bộ đã lãnh đạo nhân dân tiến hành khẩn trương hơn việc tu sửa, đào thêm hầm, hào, triển khai việc canh gác, bố phòng và mọi lực lượng của địa phương luôn luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, chủ động phòng tránh đảm bảo an toàn cho nhân dân khi địch đánh đến.

III- CHI BỘ ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN HƯNG ĐẠO (TÂY LƯƠNG) KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (3/1950 - 7/1954) 1- Tây Lương trong thời kì địch tạm chiếm (3/1950 - 5/1951) Ngày 8/2/1950 thực dân Pháp mở cuộc hành quân Tô-nô với 5000 quân đánh chiếm Thái Bình và trong tháng 2 chúng tiếp tục hành quân càn quét, bình định chủ yếu là đánh chiếm các huyện phía Bắc sông Trà Lý và tuyến giao thông chính đường số 10, trong đã có Thư Trì và Thị xã Thái Bình đầu tháng 3/1950, thực dân Pháp tiếp tục mở rộng đánh chiếm nốt các huyện phía Nam và phía Đông Thái Bình. Ngày 4/3/1950 (tức 16/1 Canh Dần) thực dân Pháp huy động hàng nghìn quân, chúng dựng cả xe pháo, lừa, ngựa, chia thành nhiều mũi từ Thị xã Thái Bình theo đường 39B đánh xuống, từ sông Hồng đánh lên, ngoài biển đánh vào để kiểm soát và bình định nốt các huyện Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Ninh và Thụy Anh. Buổi sáng hôm ấy khi quân Pháp mới kéo đến phố Nê (Kiến Xương), nhân dân các xã ven đường 39 Kiến Xương, Tiền Hải đã tổ chức tản cư triệt để, đàn bà, trẻ em, cô già phải tạm lánh vào những làng còn tương đối yên ổn, xa đường. Được lệnh, từ sáng sớm nhân dân các thôn xóm Tây Lương cũng đã tản cư, đàn bà, trẻ em và các cô già đã kéo vào các làng Rãng Thông, Vũ Lăng. Một số cán bộ, đảng viên và du kích các thôn cũng đã cùng với một số anh em công binh xưởng đóng ở địa phương phối hợp tổ chức đặt mìn, bố trí trận địa ở đường 39 đầu thôn Thượng để chặn đánh địch. Trưa hôm đã có một cánh quân địch, gồm Lính âu Phi và Lính ngụy, có cả lừa, ngựa mang hàng quân dụng đi cùng kéo đến khu vực chùa Bụt Mọc - nơi đặt mìn của du kích - nhưng mìn không nổ, du kích ta bắn một vài phát súng nhưng cũng không kết quả gì. Thấy súng nổ, quân địch Liền bắn xối xả, các chiến sỹ công bênh đặt súng cối 60 ly bắn, nhưng cũng không trúng đội hình địch. Địch tiếp tục hành quân theo đường 39 về phía bến đò Trà Lý, khi chúng đến thôn Nghĩa và Lương Phú, đoạn km 24+300, đường rẽ vào xóm Đề Thám, du kích ta bố trí trận địa mìn. Địch đến, mìn giật không nổ, các đồng chí Nguyễn Nẹt, Nguyễn Ruông, Hoàng Đình… phải rút chạy vào trong làng, địch thấy mìn không nổ, giây mìn lộ ra, chúng liền bắn xối xả vào khu xóm, một bộ phận dịch lần theo dây mìn vào săn lùng bắt được 5 người, trong số đã có đồng chí Hoàng Bách - đảng viên – cùng cha là Hoàng Bật. Đến nhà nào chúng cũng đập phá, đốt nhà và sau đã đem 5 người ra đường 39 tàn sát rất dã man (1). Khi đến Lương Phú địch tràn vào làng bắn giết 8 cô gia yếu không kịp chạy tản cư. Chiều hôm đó, địch kéo đến Trà Lý đóng quân, một đầu mối giao thông quan trọng ở ngần đầu làng Lương Phú, từ đã bốt Trà Lý hình thành. Sau đã, quân Pháp thường xuyên hành quân càn quét khắp các vùng nam bắc huyện Kiến Xương, huyện Tiền Hải nhằm xua đuổi đồng bào, chúng ra sức thực hiện âm mưu bình định “dựng người Việt đánh người Việt”. Chiến sự diễn ra ngày càng lan rộng và ác liệt, nhiều đồn bốt trong vùng Kiến Xương, Tiền Hải lần lượt được thành lập như Thanh Nê, An Bồi, Đông Hướng,... Bọn cầu an cơ hội như anh em Tô Đình Quyến, Tô Đình Ước và cha con Cửu Huyền (Lạc Thành - ngày ấy cũng thuộc xã Hưng Đạo) đã kéo cờ trắng ra hàng, toan rước giặc về làng; chống lại lực lượng kháng chiến. Ở các thôn khác thuộc Tây Lương thì đám hào lý cũ, một số người cũng tấp tểnh ra làm tề. Trước tình hình đó, lực lượng kháng chiến Tây Lương phải rút vào hoạt động bí mật. Thanh Niên trai tráng phải tìm cách tránh giặc. Một số cán bộ, đảng viên phải tạm lánh sang vùng tự do Thái Ninh. Đêm đêm cán bộ thường xuyên đi về nắm tình hình và phổ biến chủ trương của cấp uỷ cho cơ sở bám trô nằm vùng lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Phần lớn quần chúng nhân dân tạm thời phải sống trong cảnh bị giặc Pháp và bố lũ tay sai đàn áp và o áp. Từ tháng 4/1950 trở đi quân lính các đồn, bốt Đông Hướng, Trà Lý, hàng ngày thường xuyên kéo vào lùng sục khắp làng, khắp xóm, có khi cả buổi tối, ban đêm hũng bắt cán bộ, du kích. Có những ngày chúng kéo quân vào làng bắt phu chặt tre đem lên cắm dậu rào đồn bốt, bắt gà, lợn, tìm cán bộ Việt Minh. Đám vệ sỹ Lạc Thành và bọn Lính ở các đồn khu Nam Tiền Hải cũng kéo đến đàn áp, càn quét, cướp của. Không ngày nào là chúng không càn quét hoặc bắn đại bác về làng hũng lung lạc tinh thần nhân dân. Khi thì dựng một lực lương lớn (trung đội, đại đội), có khi chỉ một tiểu đội hoặc vài ba tên chúng cũng nghênh ngang vào làng lùng sục, cướp phá. Căng thẳng nhất là từ tháng 5 trở đi, bọn giặc ở bốt Trà Lý và Đông Hướng thường kéo về các làng áp dân phải lập tề, truy lùng và phá cơ sở kháng chiến một cách ráo riết. Chúng ra lệnh thiết quân luật từ 6 giờ tối đến 7 giờ sáng ở tất cả các làng xóm, cấm mọi người không được đi lại, cấm túm năm, tụm ba. Trong khoảng thời gian này, những ai mà chúng tình nghi cũng bị chúng bắt bắt, truy xét, một số người bị chúng bắn chết vô cớ. Có cán bộ, đảng viên bị bắt dưới hầm bí mật, nhiều cơ sở kháng chiến bị phá, đường dây liên lạc bị đứt đoạn. Nhiều người bị chúng bắt đem về đồn bốt đánh đập tra tấn rất dã man, có người bị bắn chết gục ngay trước mặt dân chúng, một số người bị chúng đưa đi mất tích. Chúng còn bắt từng gia đình lập bảng kê số người trong nhà, ghi rõ tên, tuổi, nam, nữ để hàng ngày kiểm tra, nếu thiếu hoặc thừa người đều nguy hiểm. Sự càn quét, truy lùng, bắt bí, đánh đập ngày một gia tăng, căng thẳng; tất cả các thôn, xóm trên địa bàn toàn xã, mỗi ngày lại thêm những nhà cửa bị đốt cháy, người bị bắt, bị khảo tra như ông Điếm, ông Sử, ông Nhĩ (Mao) xóm Việt Thắng; ông Tảo thôn Thượng… Chúng đánh đập, tra tấn cùng một kiểu (cho uống nước xà phòng hoặc nước điếu), chúi chặt dìm xuống nước buộc phải uống căng bụng rồi lôi lên dựng giầy đinh dẫm đạp lên bụng gọi là “tầu ngầm”; riêng ông Tảo chúng giải về bốt Trà Lý và 2 ngày sau bắn ông chết tại Điếm canh thôn Thượng. Một hôm khác chúng ập vào bắt được đồng chí Thìn nấp ở ổ rạ trong bếp nhà bà Tứ, chúng trói và tra khảo, bà Tứ một mực chỉ nói họ ở đâu đến nấp bao giờ tôi không biết rồi chúng giải bà về đồn. ông Nguyễn Hạp, bà Lãng, bà Tung ở các xóm trại cũng bị chúng tra tấn chán rồi giải về đồn. Bà Xoang (thôn Nghĩa) bị chúng tra tấn, đánh đập, quay điện nhằm bắt bà phải khai báo về hố chôn cất những phụ kiện máy múc của công bênh xưởng còn để lại nhưng bà cắn răng chịu đựng để bảo toàn các đồng chí: Đỗ, Ninh - cán bộ huyện đội, đồng chí Cổn (Chí)- trưởng Công an xã Hưng Đạo ở hầm bí mật nhà bà. Những bà mẹ và những người chị đã dựng mưu, nhanh trí dũng cảm cứu những cán bộ trong lúc gặp hiểm nguy, có người đã bị địch bắt, có người bị dồn đến nơi tập trung để chúng nhận diện, chỉ điểm như chị Đức (xóm Việt Thắng), chị Nhâm, bà Nhẽ, bà Tư Chí (thôn Thượng)(1). Ngoài những tấm gương sẵn sàng chấp nhận hy sinh để bảo vệ cán bộ còn có những tấm gương dòng cảm chịu đựng mọi cực hình trà tấn của địch, giữ vững khí tiết người cán bộ đảng viên như các đồng chí Nguyễn Đức Ngợi, Nguyễn Đức Thành, Vũ Văn Rữu, Tạ Ngọc Uyển, Hoàng Cao Thạng, Mai Tậu, Nguyễn Châm… chưa bị lộ tung tích nhưng bị địch tình nghi nên các đồng chí bị bắt, chúng đánh đập, khảo tra bằng nhiều hình thức dã man, có người bị đánh theo kiểu “tầu bay” (treo lơ lửng ngược đầu xuống), có người bị tra tấn theo kiểu “tầu ngầm”… nhưng không một ai khai báo, sau đã các đồng chí được tha về(1). Địch càng tăng cường đốt phá, đàn áp, truy lùng bao nhiêu thì sự dồn nộn, chí căm thự càng tăng thêm, tình yêu thương, che chở, bảo vệ cán bộ, bộ đội, bảo vệ lực lượng kháng chiến trong nhân dân càng được nhân lên gấp bội(2). Vừa thực hiện âm mưu càn quét bình định, bọn gián điệp, chỉ điểm vừa tăng cường hoạt động phao tên đồn nhảm gây sức áp, bắt nhân dân phải lập tề. Từ nửa cuối năm 1950, sự đàn áp khủng bố của kẻ thự càng làm cho dân tình xôn xao, lo sợ, không khí bi quan giao động tràn lan. Nhất là khi kẻ địch tung ra những tin tức ghi rợn về chiến dịch “tầm thanh diệt cộng”, về vô phá nhà thờ Cao Mại, về vòng máu Nam Bình... càng làm cho một số người hoang mang, từ đó nhiều người lo sợ địch càn quét liên miên, sợ chiến tranh ác liệt kéo dài, sợ chết chúc, gian khổ... Đội phòng trõ sau là đội Thái Hùng của tỉnh, huyện được thành lập ở Tây Lương có các đồng chí: Hoàng Văn Ngật, Tô Đình Lăn, Nguyễn Văn Lãng (thôn Thượng); Hoàng Y, Hoàng Bôn (thôn Nghĩa); Hoàng Văn Chộn, Nguyễn Văn Cật (thôn Hiên); Đặng Sở (Tam Đồng) và đồng chí Phạm Công Nhì người xã Nam Huân ( Kiến Xương) Phụ trách. Nhiệm vô của đội là phá và diệt tề, diệt ác ôn. Các tổ chức khác cũng được thành lập như tổ giao thông đường bộ gồm: Hoàng Văn Hán, Hoàng Văn Nê, Hoàng Thị Cáu (thôn Hiên); Hoàng Thị Mai (thôn Nghĩa); Tô Thị Thồ, Hoàng Thị Gion (thôn Thượng) đảm nhiệm tuyến đường dây giao thông huyết mạch của xã, của huyện từ xóm Việt Thắng - thôn Hiên đi Tam Đồng. Tổ giao Liên qua sông Trà Lý sang Tân Nghĩa (huyện Thái Ninh) nối liền giao thông Liên lạc với cơ quan tỉnh. Lực lượng này giao hoàn toàn cho thôn Tam Đồng do đồng chí Đặng Sở phụ trách, chịu trách nhiệm tổ chức từ con người đến phương tờện đảm bảo an toàn, kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vô trong mọi hoàn cảnh. Ban đầu chỉ có 4 – 5 đồng chí, sau tăng cường, bổ sung lực lượng lên 11 đồng chí(1). Trước uy thế về vũ khí và phương tiện chiến tranh của quân đội Pháp và bọn tay sai, bọn cơ hội và đám tổng lý hào cũ muốn đứng ra lập tề, đầu hàng giặc. Nhưng đại bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân vẫn kiên trì chịu đựng, sẵn sàng kháng chiến chống giặc. Trước mắt, những vấn đề mới đặt ra đòi hái cán bộ, đảng viên và cấp uỷ phải có những chủ trương thích hợp đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của quần chúng nhân dân là muốn có một cuộc sống sớm ổn định, duy trì mọi hoạt động bình thường để lao động sản xuất. Trước yêu cầu cấp bách của cuộc sống, tình hình chiến sự diễn ra ngày càng ác liệt, địch tăng cường khủng bố gắt gao, đòi hỏi Chi bộ Đảng phải có chủ trương sáng suốt, kịp thời để làm dịu tình hình, giải quyết những mâu thuẫn lớn đang diễn ra và việc một vài ban tề ở các thôn Thượng, thôn Hiên, thôn Lương Phú, thôn Nghĩa hình thành. Phần lớn số người ra làm tề đã được xem xột cân nhắc, giao nhiệm vô. Nhưng trong đã cũng có một số tên về sau trở mặt chống lại kháng chiến, chống lại nhân dân đã bị đội Thái Hùng tiêu diệt. Vào thời kì cuối năm 1950, đầu năm 1951, sau những đợt phá tề của quân dân ta, tình hình chung trong tỉnh, trong huyện đã có nhiều chuyển biến thuận lợi. Nhất là đợt đại náo tổng phá tề của toàn tỉnh hồi tháng 8, tháng 9/1950 đã xoá đi tới 80% số ban tề của địch đã lập ra. Riêng các thôn Thượng, thôn Hiên, thôn Nghĩa, thôn Trung Tiến, thôn Lương Phú (xã Tây Lương ngày nay) không phá tề vì nắm chắc ban tề ngay từ khi hình thành, thời kì này chỉ có củng cố thêm cho bền vững hơn. Phối hợp với chiến dịch Biên Giới Việt - Trung, quân dân tỉnh ta đã tiến công tiêu diệt hàng chục đồn bốt địch ở Hưng Nhân, Duyên Hà và Thái Ninh, làm cho lực lượng chiếm đóng của địch ở các đồn bốt vùng Kiến Xương, Tiền Hải bước đầu phải chùn tay. Trước tình hình đã, được sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ Tiền Hải đặt vấn đề củng cố và xây dựng cơ sở lên hàng đầu. Sau khi củng cố xây dựng được Việt Thắng làm căn cứ để chỉ đạo kháng chiến, công việc chắp nối đường dây Liên lạc trong toàn xã bước đầu được củng cố. Chi uỷ xã Hưng Đạo đã triệu tập một cuộc họp đề ra những chủ trương mới. Trong nghị quyết của cấp uỷ có đề cập đến nhiều vấn đề nhưng vấn đề đặc biệt quan trọng được đặt ra là: - Phục hồi ngay việc sinh hoạt của các tổ Đảng. - Chắp nối lại sự hoạt động của các đoàn thể quần chúng. - Củng cố lực lượng dân quân du kích. - Luôn luôn đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu thủ đoạn của địch. Sau khi có nghị quyết của cấp uỷ, các đồng chí cán bộ chủ chốt lần lượt được phân công bí mật về các thôn, xóm Phụ trách việc củng cố cơ sở, khôi phục phong trào. Đồng chí Hoàng Nức - Bí thư Chi bộ, ngoài nhiệm vô chỉ đạo chung còn đảm nhiệm trực tiếp xây dựng cơ sở thôn Nghĩa cùng đồng chí Hoàng Văn Hệ là tổ trưởng. Tháng 6/1950 đồng chí Phạm Văn Thu (Sử) được Huyện uỷ chỉ định về làm Bí thư Chi bộ thay đồng chí Hoàng Nức đi nhận nhiệm vụ khác. Đồng chí Nguyễn Từ - Chi uỷ viên - cùng các đồng chí Hoàng Cao Thặng, Tạ Ngọc Uyển, Nguyễn Đức Thành, Mai Tậu phụ trách địa bàn Lương Phú; đồng chí Nguyễn Điều Phụ trách Trung Tiến, Nhượng Bạn và Hoàn Khê. Đồng chí Hoàng Trữ xây dựng cơ sở thôn Hiên được ít ngày thì trên điều đi công tác khác. Đồng chí Hoàng Ngọc Kiểm - Chi uỷ viên - Phụ trách khối dân vận lên thay cùng các đồng chí Nhĩ (Mao), Khảo, Tánh và Củng. Đồng chí Nguyễn Nghĩa - Thường vụ Chi uỷ - Phụ trách thôn Thượng cùng với các đồng chí Hoàng Văn Nhuệ, Hoàng Văn Ngật, Hoàng Văn Ngà, Nguyễn Văn Cật và Nguyễn Văn Thụy. Các đồng chí cán bộ được phân công về cơ sở đã nhanh chúng chắp nối lại phong trào, bí mật Liên hệ với cán bộ và quần chúng nhân dân địa phương nên bước đầu đã củng cố được sinh hoạt của các tổ Đảng và các đoàn thể quần chúng. Việc cấp uỷ phân công cán bộ xuống cơ sở lúc này đã kịp thời đáp ứng được sự mong đợi của quần chúng. Vì vậy, phong trào ở một số thôn, xóm tuy bề ngoài vẫn giống như các làng tề khác, nhưng trong mỗi người đang nung nấu lòng căm thù địch, đoàn kết, sẵn sàng nổi dậy đánh giặc giữ làng. Ở ngay thôn Lương Phú sát đồn Trà Lý, ngày đêm sớm tối bọn lính đồn tự do ra vào làng xóm vậy mà các đồng chí cán bộ, đảng viên vẫn trô lại bám đất, bám dân; ở xóm Đề Thám - nằm ngay cạnh đường 39 - kẻ địch đã đốt cháy nhà dân nhiều lần, lúc khó khăn nhất, cán bộ vẫn bám dân, bám đất. Còn phía trong làng của thôn Nghĩa và thôn Hiên, nơi cơ sở tương đối vững, cán bộ ta đã xây dựng thành nơi nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ, bộ đội. Ở những nơi này có nhiều gia đình cơ sở đã hết lòng, hết sức vì cách mạng, vì kháng chiến. Riêng xóm Việt Thắng được coi là căn cứ chỉ đạo kháng chiến của cả xã Hưng Đạo và có thời kì còn là căn cứ của huyện. Những gia đình cơ sở như bà Xoang, bà Nhẽ, ông Sí, ông Thấp, bà Mai, bà Sút, ông Biểu Đạm, ông Ngữ, bà Đậu, bà Riệp, bà Phú Oánh, ông Ký Phụ, bà Câu, ông Phàn, ông Pháng, bà Chợp, bà Nhắn, bà Chướng, bà Lãng, bà thờệp, ông Thiên, bà Vấn… là những gia đình đã hết lòng nuôi giấu cán bộ chủ chốt của các xã như Văn Tố, Hữu Nam, Ngô Quyền, Ngọc Thô, Ái Quốc, Phùng Hưng, Công Trứ và những xã khác đứng chân ở thôn Nghĩa để đêm đêm lần về địa phương nắm bắt tình hình chỉ đạo. Ngoài ra còn có cán bộ huyện, tỉnh như đồng chí Bùi Thọ Ty, bộ đội tỉnh, bộ đội C5 của huyện và bộ đội chủ lực mỗi khi chuyển quân cũng dâng chân ở đây trong suốt những năm khó khăn ác Liệt đã được nhân dân che chở, đùm bọc.

Thôn Thượng ở sát đường 39, Lương Phú ở gần đồn Trà Lý hàng ngày địch thường đi đến bất kì, vậy mà trong những năm ác liệt của cuộc kháng chiến vẫn có những gia đình cơ sở hết lòng nuôi giấu cán bộ như ông Nại(1), ông Tầu, ông Tích, ông Thố, ông Tún, ông Nghì, bà Khâm, ông Thế, Bà Hợi(Hàm)… (Thôn Lương Phú); Thôn Thượng có gia đình ông Tuú (Xỉ), bà Viu, ông Cháp, bà Tư Chí…; thôn Trung Tiến có bà Thiết, bà Thục, bà Tung, ông Vây, ông Cẩn, ông Điều, ông Kỷ, ông Nghi, bà Nhang Đương…

Tam Đồng là thôn có tính đặc thự riêng không giống như các thôn khác vì đây là nút giao thông huyết mạch nối Tiền Hải với Thái Ninh. Trạm giao Liên Tam Đồng – Tân Nghĩa không chỉ đưa đãn cán bộ, bộ đội mà còn giao chuyển những đối tượng như ác ôn, tề ngôy, tự, hàng bênh và những tên chống lại kháng chiến cần phải giáo dục cải tạo. Nhiều gia đình ở Tam Đồng là những cơ sở nuôi giấu và bảo vệ cán bộ trên đường đi công tác phải lưu lại đây, điển hình là gia đình ông Vịnh, ông Thớm, ông Thuật, ông Tước, ông Sở, ông âm, ông Hoạt… Ở các trại Trung Tiến, Bối Xuyên, Tam Đồng ta bố trí lực lượng canh gác viễn tiêu ngày đêm để đảm bảo đường dây liên lạc chỉ đạo kháng chiến không những của xã mà cả của tỉnh, từ Tiền Hải qua xã Hưng Đạo, qua Trà Lý sang Thái Ninh để phục vô việc chỉ đạo kháng chiến giữa huyện và tỉnh, giữa các xã trong huyện được thông suốt, vừa làm nhiệm vô thông tên, vừa đưa đãn cán bộ, bộ đội qua lại được an toàn. Dưới sự chỉ đạo của Huyện uỷ, xã Hưng Đạo đặt đường dây liên lạc qua các trại Trung Tiến, Bối Xuyên và Tam Đồng. Ở thôn Thượng, Tô Tán Phát truyền đơn gồm những thanh thiếu Niên tuổi 16, 17 như Tô Thanh Sơn (Bắc), Tô Minh Thuyết, Tô Văn Bảy, Hoàng Phúng, Tô Đình Loe (Dương), Hoàng Văn Truú, Tô Đình Duyên, Tô Mạnh Đản, Hoàng Đình Tửu có nhiệm vụ phát tán truyền đơn, tài Liệu kháng chiến ở địa bàn thôn xóm, ở đường 39 và trong đồn Trà Lý do đồng chí Tô Đình Cố (đảng viên – cán bộ phân đoàn trưởng chi đoàn thanh Niên cứu quốc) Phụ trách. Trong quá trình củng cố cơ sở kháng chiến, củng cố các tổ chức quần chúng, nhất là thời kì cuối năm 1950, cán bộ, đảng viên ta gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ. Trong hoàn cảnh địch o áp và càn quét liên miên, cán bộ xuống cơ sở phải hết sức thận trọng, phải có hầm bí mật đảm bảo và được nhân dân hết lòng tin yêu, giúp đỡ. Thực hiện nghị quyết của cấp uỷ và chủ trương đưa những cán bộ, đảng viên chưa bị lộ tông tích ra hoạt động bán công khai hoặc công khai; tuú tình hình có thể ở địa bàn cơ sở (vận dụng) là một chủ trương đúng và kịp thời, khi các đồng chí cán bộ, đảng viên xuất hiện, hoạt động đã làm cho quần chúng nhân dân yên lòng, vững tâm hơn. Đầu năm 1951, tình hình vẫn căng thẳng, thực dân Pháp tăng cường các đợt càn quét, bình định. Tháng 3/1951, địch mở đợt càn quét lớn, đánh phá khu du kích Thượng Phương, Hội Phú; triệt phá nhiều làng kháng chiến của huyện Đông Quan. Đến tháng 4/1951 chúng lại càn quét dài ngày và ác liệt ở hai huyện Thụy Anh và Phụ Dực. Lúc này ở xã Hưng Đạo, bọn phản động đội lốt thiên chúa giáo đã kích động giáo dân, gây chia rẽ, hằn thự giữa lương và giáo, chúng biến nhà thờ thành tháp canh. Điển hình là nhà thờ Lạc Thành lúc này có một trung đội vệ sỹ canh gác; đình Vũ Lăng cũng đã biến thành đồn giặc... nhằm vây áp khống chế mọi hoạt động kháng chiến của nhân dân ta. - Thực hiện chủ chương của tỉnh, huyện uỷ và uỷ ban kháng chiến hành chính huyện Tiền hải cùng với cán bộ tiểu đoàn 195 (bộ đội tỉnh) ngày 03.6.1951 cuộc họp triển khai thực hiện chủ chương và phương án chiến đấu gồm có: Đồng chí Bùi Thọ Ty; Bí thư huyện uỷ Tiền hải đồng chí Lê Thanh Bình Chính tri viên huyện đội - Đồng chí Đỗ - Huyện đội phó. - Đồng chí Thuận - Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 195 của Tỉnh. - Đồng chí Khinh - Bí thư Chi bộ Hưng Đạo. - Đồng chí Phiến - Chủ tịch xã. - Đồng chí Thụy - Xã đội trưởng. Thống nhất phương án tác chiến. Sáng ngày 05.6.1951 tại km 23 đường 39B khu vực thôn Thượng xã Hưng Đạo (nay là xã Tây Lương) tiểu đoàn 195 cùng lực lượng du kích địa phương phục kích đánh bọn đi tuần đường diệt tên xếp Kêu gian ác, bắt sống những tên địch còn lại. Trận đánh áp đảo diễn ra nhanh chóng. Bộ đội về nơi tập kết an toàn kết thúc trận đánh. Các đồng chí Hoàng Văn Đình Nguyễn Nẹt, Nguyễn Cấn, Nguyễn Ruông, Nguyễn Cầu (mắt) du kích thôn Nghĩa do đồng chí Hoàng Hàm trung đội trưởng phụ trách đưa anh em trở về dâng chân tai nhà cô Tý Bồng ở sát đường 39B hoan hỷ mừng vui chiến thắng, bỗng phát hiện một toán địch (nguỵ quân) từ phía Trà Lý đi lên. với yếu tố bí mật, bất ngờ, thừa thắng xốc tới anh em đồng loạt nổ súng xông ra bắt sống tên Nguyễn Thành Long quận trưởng Thái Ninh và một số tên địch chiến công này là kết quả phối hợp tác chiến của du kích địa phương và D195 bộ đội tỉnh. Chiến lợi phẩm: thu 2 súng trung liên, 4 súng tiểu liên, 2 súng lôc, 10 súng trường, một cặp tài liệu và 2.000 Tiền đông dương, bắt sống 18 tên địch. Thắng lợi này đã có ảnh hưởng rất lớn làm cho quân dân ta càng tên tưởng ở lực lượng kháng chiến và tên vào thắng lợi cuối cùng. Đồng thời cũng làm cho quân địch khiếp vía, báo hiệu thời kì làm mưa làm giú của chúng không còn nữa. Thắng lợi này mở ra một thời kì mới, sáng sủa, nhiều vùng tạm chiếm của địch ở Tiền Hải, Kiến Xương trở thành vùng du kích và căn cứ du kích.

2- Quân dân xã Tây Lương tiến lên xây dựng vùng du kích, tích cực chống địch càn quét Sau trận đánh ngày 5/6/1951, cán bộ, đảng viên và nhân dân Tây Lương phấn khởi, tên tưởng càng ra sức xây dựng vùng du kích ngày càng vững mạnh. Về lực lượng vũ trang địa phương, Chi uỷ kịp thời đề ra chủ trương củng cố lực lượng dân quân du kích. Trước hết là củng cố trung đội du kích cơ động được trang bị quần áo, thống nhất đồng phục màu đen, tay áo rộng. Về trang bị cho du kích lúc này đã có một số vũ khí đáng kể, gồm 1 tiểu Liên và hàng chục khẩu súng các loại. Dân quân các thôn xóm cũng được củng cố, kiện toàn sẵn sàng làm nhiệm vô chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Các đoàn thể Nông dân, Thanh Niên, Phụ nữ cũng bước đầu được phục hồi và duy trì mọi hoạt động. Đoàn Thanh Niên cứu quốc xã Hưng Đạo đã đạt được nhiều thành tích đáng kể trong việc bảo vệ thanh Niên, chống giặc bắt Lính. Cuối xã là đồn Trà Lý, gần thôn Lương Phú, tháp canh nhà thờ Lạc Thành, Liền kề thôn Thượng, sau xóm Việt Thắng là bốt đình Vũ Lăng, phía Bắc là thôn Tam Đồng. Sau khi cắm bốt ở đình Vũ Lăng thì anh em chánh Đạt, lý Tông lĩnh súng ở đồn Trà Lý, về nhà cho người chặt tre vây quanh khu đất của làng dựng tháp canh toan rước giặc về cắm bốt nhăm cắt đứt đường dây giao thông huyết mạch của ta từ Việt Thắng- Tam đồng - Tân Nghĩa (Thái Ninh). Trước tình thế đã chấp hành chỉ thị của Huyện uỷ ông Nguyễn Phiến Chủ tịch uỷ ban xã phải trực diện đối thoại với anh em Đạt, Tông yêu cầu phải đem súng trả đồn Trà Lý, cho phá rỡ ngay hàng rào không được để lại vết tích gì. Nếu địch cắm bốt trở lại thì lực lượng kháng chiến sẽ trừng trị ngay bọn tiếp tay cho địch chống lại nhân dân, chống lại kháng chiến, Anh em Đạt, Tông xin chấp nhận thực hiện ngay ngày hôm sau (có đội thái Hùng bảo vệ ông Phiến làm nhiện vụ. Trong hai năm 1951 - 1952, nhiều thanh niên trai tráng đến tuổi đã đi khám tuyển bộ đội, tất cả đoàn viên đều mong muốn đủ điều kiện để được tòng quân giết giặc. Để chống lại cuộc chiến tranh tâm lý, chống bọn gián điệp do thám, chỉ điểm, các đoàn thể quần chúng đã giáo dục đoàn viên, hội viên tăng cường cảnh giác với bọn gián điệp, thám báo. Tất cả mọi người trong xã đều học thuộc và thực hiện “ba không” (không biết, không nghe, không nói). Những thôn xóm liền kề đường 39 kẻ địch đốt phá nhiều lần, nhân dân đã chủ động thực hiện vườn không nhà trống, một số gia đình dì nhà, đem kèo cột ngâm dưới ao đề phòng kẻ địch đốt phá. Trong thôn, xóm mở nhiều lối, ngâ ngách thông từ nhà nọ sang nhà kia, từ xóm nọ sang xóm kia, hình thành kiểu làng kháng chiến Liên hoàn để bộ đội và du kích phối hợp đánh giặc. Về sản xuất nông nghiệp: tuy chiến sự thường xuyên diễn ra nhưng nông dân vẫn tranh thủ cày cấy hết diện tích, trõ những thửa rộng trong vành đai bốt Trà Lý và một số ít ruộng ven đường 39. Do sản xuất nông nghuệp được bảo đảm nên nông dân vẫn đủ lương thực để tiêu dựng đồng thời có khả năng dư dật để nuôi bộ đội và cán bộ kháng chiến. Từ vụ chiêm năm 1951, nông dân bắt đầu và hăng hái đóng thuế nông nghiệp và ủng hộ quỹ tham gia kháng chiến. Những năm 1951- 1952, trong các trận càn quét lớn, giặc đã bắn chết và cướp đi nhiều trâu, bò của nông dân, riêng trận càn Thuỷ ngân (4/1952) quân giặc đã giết hại và bắt hàng trăm trâu, bò cùng nhiều thúc gạo, gà, lợn(1). Mặc dự từ sau vụ Mùa 1952, khi thu hoạch lúa Mùa về, sau khi phơi săn, rê sạch, nông dân cất dấu kỹ, mỗi gia đình đều có hầm cất dấu thúc lúa, trâu, bò, lợn, gà. Mùa hố năm 1952, nước biển lên to nên đoạn đi Trà Lý sau làng Lương Phú có nguy cơ bị vì, lúa và hoa mầu bị đe dọa. Trước tình hình khẩn cấp đó, nhân dân ta đã cử ngay một đoàn đại biểu nhân dân, toàn các cụ già, trong đã có ông Bá Ui là đảng viên tổ chức cử ra làm việc, kéo xuống đồn Trà Lý đòi đồn trưởng phải cho nông dân đắp đê ngăn mặn để bảo vệ lúa và hoa mầu. Bọn chỉ huy không nghe, sợ dân công kéo lên đi qúa đông sẽ trà trộn đánh đồn. Trước tình hình đã, được lệnh của cấp trên. Đội Thái Hùng giao nhiệm vô cho đồng chí Y cùng chị Mùilà cán bộ địch vận huyện đến gặp ông chánh Xanh, ông quản Viện (làng Trà Lý) hai ông này được địch tên dựng từ ngày địch cắm bốt Trà Lý trước ta đã cảm hoá, bây giờ phải áp đặt, khống chế yêu cầu hai ông đền giàn xếp với đồn trưởng Trà Lý để nhân dân đắp đê (vì đang là mùa mưa lũ). Hai ông nhận lời giúp đỡ. Việc tổ chức đắp đi được tiến hành, đin ngày sắp hoàn thành. Cô Bá Ui nguyên là hào lý, ông Nguyễn Văn Phiến Chủ tịch uỷ ban kháng chiến hành chính xã cải trang là hào lý, đồng chí Hoàng Cao Thặng đảng viên giả làm người gánh nước phục vô cùng lên mặt đi gặp gì nhân dân. Tuy không nói gì nhưng mọi người ngầm hiểu cán bộ, đảng viên luôn sát dân. đắp đi Lương Phú xong nhận chỉ thị khẩn của Uỷ ban kháng chiến huyện Tiền Hải tranh thủ chíp thời cơ, huy động lực lương đắp đi ngặt kéo Tam Đồng ngăn nước mặn cho cả Tiền Hải và Kiến Xương với tinh thần nhanh nhất để nhân dân còn chuẩn bị chống càn. Ta đã hoàn thành trước thời gian dự kiến. Về đấu tranh chống địch càn quét, tuy lúc này kẻ địch không còn tự do hoành hành, tự do kéo vào các thôn, xóm sục sạo như trước nhưng chúng tăng cường các cuộc càn quét lớn, hũng uy hiếp tinh thần của nhân dân và thực hiện âm mưu bình định. Mùa thu năm 1951, khi quân địch tổ chức càn quét lớn ở Thái Ninh và vùng bắc Kiến Xương, quân địch ở các đồn Đông Hướng, Trà Lý càn quét, đánh phá vào các làng, xóm Tây Lương. Chợ cóc Lương Phú cách bốt quận hành chính Tiền Hải (Trà Lý) châng 100 một hàng ngày lính quận kiểm tra kiểm soát chợ ráo riết. Đầu năm 1952 đồng chí Lê Trung Thanh (Tếnh) xã đội phú cùng 5 đồng chí bộ đội C5 Tiền Hải cải trang là người đi chợ nổ súng bắn bị thương 1 Lính nguỵ, súng nổ, chợ náo loạn, bọn Lính hốt hoảng chạy về quận xả súng bắn sang chợ dữ dội. Ta thu 1 súng tiểu liên và rút quân an toàn. Trung tuần tháng 1/1952, bộ đội chủ lực sư đoàn 320 vào Thái Bình. Đêm 25/1/1952 (tức 29 tết Nhâm Thìn), đánh tiêu diệt đồn Đông Hướng (La Cao) và quận lỵ hành chính. Tin chiến thắng Đông Hướng vang dội trong những ngày tết Nhâm Thìn làm cho nhân dân ta hả lòng, hả dạ, quân lính địch còn đóng ở các đồn, bốt trong vùng thì kênh hồn, khiếp vía. Tin mất Đông Hướng, quân địch ở các vị trí Vũ Lăng, Giáo Nghĩa (Kiến Xương) đã vác súng ra hàng Việt Minh, quân lính đúng ở đồn Trà Lý cũng hoảng hốt bỏ chạy; nhân thời cơ đó, quân dân Tây Lương cũng hoạt động mạnh, phối hợp với bộ đội chủ lực đón đánh địch trên đường 39. Trung đội du kích xã vào tháp canh Lạc Thành gây sức áp bắt bọn vệ sỹ phải nạp 18 súng các loại, giải tán tháp canh. Trong những ngày đầu xuân Nhâm Thìn, hoà cùng với niềm vui đón xuân chiến thắng, quân dân Tây Lương càng ra sức sản xuất và chuẩn bị hầm, hố cho người và hầm, hố cất giấu của cải, thúc lúa, trâu, bò. Dân quân, du kích tăng cường canh gác, tranh thủ củng cố hầm, hào, công sự để đề phòng địch đánh đến. Để chiếm lại những vị trí đã mất và âm mưu tìm diệt chủ lực ta, ngày 26/3/1952 quân đội Pháp mở trận càn lớn Mộc - cuya đánh phá cả một vùng rộng lớn 4 huyện Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải và Thái Ninh. Trong những ngày địch càn quét, khi quân GM (jem) vào làng quá đông, dân quân du kích đã báo động để bảo toàn lực lượng và nhân dân kịp cất dấu của cải, đồng thời tập trung để bảo vệ thanh niên và Phụ nữ. Ban đêm địch cắm lều bạt đóng quân tại đường 39, bộ đội địa phương và dân quân du kích tích cực quấy rối gây tiếng nổ làm cho địch hoang mang căng thẳng Những ngày đầu tháng 4/1952, quân cơ động của địch bị bộ đội ta đánh thiệt hại nặng ở Bích Du, Chỉ thiện (Thái Ninh) và ở nhiều nơi khác nên mục đích của cuộc càn quét không thực hiện được. Ngày 4/4/1952, cuộc hành binh Mec-Cuya phải kết thúc. Trong khi buộc phải rút quân, chúng để lại 2 tiểu đoàn quân cơ động âu Phi hỗ trợ cho lực lượng quân ngụy đóng lại các vị trí Trà Lý, Đông Hướng (Tiền Hải), Thanh Nê, Cao Mại (Kiến Xương), lập ra một phân khu mới là phân khu hạ lưu sông Hồng (Song secteur Bas Fleuve Rouge) do những đơn vị Lính BVN (tức Bataillon VietNam Men) và 3 đại đội Suppletờfs đóng giữ. Đã là lần thứ hai quân giặc trở lại đóng bốt Trà Lý. Lần này thế và lực của địch đã suy yếu, tình hình chiến sự ở Kiến Xương, Tiền Hải và cả Thái Bình nói chung đã có những thay đổi lớn, không có lợi cho địch. Vùng tự do mở rộng, một loạt đồn, bốt, tháp canh quân vệ sỹ ở ba huyện Tiền Hải, Ki
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (Chuong I)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH :: Linh Tinh Khác :: Kiến Thức Tổng Hợp-
Chuyển đến