CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH

NƠI GẶP GỠ CÁC BẠN CÙNG KHÓA, CÙNG TRƯỜNG, CÙNG QUÊ VÀ CÁC THẦY CÔ TRÊN KHẮP MỌI MIỀN
 
Trang ChínhTrang Chính    CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
May 2018
MonTueWedThuFriSatSun
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   
CalendarCalendar
Social bookmarking
Social bookmarking digg  Social bookmarking delicious  Social bookmarking reddit  Social bookmarking stumbleupon  Social bookmarking slashdot  Social bookmarking yahoo  Social bookmarking google  Social bookmarking blogmarks  Social bookmarking live      

Bookmark and share the address of CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH on your social bookmarking website
Top posting users this month
Most active topics
NGUYỄN NGỌC BẢO VÀ CỰU HỌC SINH K76-79 GẶP NHAU Ở SÀI GÒN
Chùm thơ Phan Sĩ Phú
gặp mặt thường niên 2013 tại Sóc Sơn
Gặp mặt kỷ niệm 35 năm ra trường K76-79 (16-11-2014) tại Trường
ĐÁM CƯỚI CON TRAI CỦA HƯƠNG LỚP G TẠI TP.HCM
Lễ Vu Quy Con Gái Anh Khoa (lớp C) ở Hà Nội
HÌNH ẢNH KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY RA TRƯỜNG HỘI CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 TRƯỜNG PT CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Mời các bạn cựu HS cấp III Tây Tiền Hải khóa 76-79 gặp gỡ tại Vĩnh Phúc
Truyện ngắn 100 chữ
DANH SÁCH CỰU HỌC SINH KHÓA 76-79 CẤP III TÂY TIỀN HẢI
Latest topics
» Chúc mừng năm mới
Thu Mar 24, 2016 9:36 pm by buitiendung

» Chào xuân Bính Thân
Wed Feb 03, 2016 10:26 pm by buitiendung

» Chia buồn với gia đình bạn Phan Quốc Sự
Wed Jan 20, 2016 11:23 am by phanquocsu

» Thông báo mới
Wed Jan 20, 2016 11:22 am by phanquocsu

» Danh sach G
Wed Dec 30, 2015 4:30 pm by phanquocsu

» Thông báo khẩn
Fri Nov 20, 2015 10:49 pm by buitiendung

» Thông báo mời gặp mặt K76-79 trường TT Hải Năm 2015
Tue Oct 06, 2015 10:44 pm by buitiendung

» Thân gửi các bạn!
Sun Sep 27, 2015 8:41 pm by buitiendung

» Kỷ niệm 30 năm ra trường Hội HS K76-79 Cấp 3 Tây Tiền Hải
Fri Aug 21, 2015 11:35 pm by buitiendung

Keywords
Poll
Statistics
Diễn Đàn hiện có 62 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: Mrgift

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 772 in 271 subjects

Share | 
 

 Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

Go down 
Tác giảThông điệp
buitiendung
Admin


Tổng số bài gửi : 158
Join date : 26/10/2012
Age : 55
Đến từ : Hà Nội

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình   Thu Jul 04, 2013 10:23 pm

Tây Lương: Một xã thuộc huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình


CHƯƠNG MỞ ĐẦU QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐẤT ĐAI, CƯ DÂN, LÀNG XÃ VÀ NHỮNG TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA TÂy LƯƠNG TRƯỚC KHI ĐẢNG CỘNG SẢN ViỆT NAM RA ĐỜI

I- TÂY LƯƠNG - MẢNH ĐẤT CON NGƯỜI 1- Sự thành lập xã Tây Lương Xã Tây Lương ngày nay là tên gọi được hình thành sau 30 năm biến đổi của việc thành lập xã, từ khi cách mạng tháng 8-1945 thành công. Ngày 22/8/1945, sau khi giành được chính quyền ở huyện, bộ máy chính quyền cách mạng lâm thời các làng được thành lập. ông Vũ Văn Thuật được cử làm Chủ tịch uỷ ban cách mạng lâm thời làng Lương Phú, ông Tô Đình Thái được cử làm Chủ tịch uỷ ban cách mạng lâm thời làng Đại Hoàng. Tháng 3/1946, tổng tuyển cử thực hiện chủ trương thành lập xã có quy mô lớn hơn: các làng Lương Phú, Trà Lý, Tam Đồng hợp lại thành xã Duy Tân; các thôn: thôn Thượng, thôn Hiên, thôn Nghĩa (làng Đại Hoàng) thành xã Đại Hoàng. Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã Duy Tân là ông Vũ Văn Thuật, Phú Chủ tịch là ông Hoàng Vượng, uỷ viên thư ký là ông Vũ Thẩm, uỷ viên thủ quỹ là ông Trần Hoạt, trưởng Ban Quân sự là ông lê Đình Chới. Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã Đại Hoàng là ông Tô Xuân Tuyển, Phó Chủ tịch là ông Nguyễn Khinh sau đã làm chủ tịch xã Đại Hoàng, trưởng Ban Quân sự là ông Tô Đình Xước, uỷ viên thủ quỹ là ông Nguyễn Thuật, Chủ tịch Việt Minh là ông Tô Đình Thám, trưởng Ban Cảnh giới là ông Tô Yêm, uỷ viên thư ký là ông Tô Đình Hiến. Dưới cơ sở các thôn, làng có uỷ nhiệm thôn, làng. Chính quyền khoá này tiến hành việc quân cấp ruộng đất cho công dân nam, nữ, đồng thời thực hiện quyền bình đẳng nam, nữ. Đầu năm 1947, thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên, nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vô cách mạng, Ba xã là: Duy Tân, Đại Hoàng và Tân Định (Tân Định là xã Tây Ninh ngày nay) hợp nhất thành xã Hưng Đạo do ông Vũ Văn Thuật làm Chủ tịch, ông Vũ Húc làm Phú Chủ tịch, ông Tô Đình Thám Chủ tịch Mặt trận Việt Minh, ông lê Đình Chới làm xã đội trưởng. Cuối thời kì giảm tô (1955) xã Hưng Đạo lại tách ra, thôn Trà Lý chuyển về xã Đông Quý, các thôn Lạc Thành, Đại Hữu, Vĩnh Ninh là xã Tây Ninh. Xã Tây Lương gồm các thôn Lương Phú, Tam Đồng, thôn Nghĩa, các xóm trại Hoàn Khê, Nhượng Bạn và Trung Tiến, còn thôn Thượng và thôn Hiên sát nhập với thôn An Khang thành xã Tây Đô. Sau cải cách ruộng đất, cùng với việc sửa chữa những sai lầm trong quá trình thực hiện cải cách ruộng đất, để phù hợp với địa dư hành chính, ruộng đất canh tác. Việc thành lập xã mới lại được đặt ra. Xã Tây Lương lúc này bao gồm các thôn: thôn Thượng, thôn Hiên, thôn Nghĩa, Lương Phú, Tam Đồng và các trại Hoàn Khê, Trung Tiến, Nhượng Bạn (gọi là thôn Trung Đồng). Đến năm 1977, thôn Tam Đồng chuyển về xã Vũ Lăng theo Quyết định 1.507 ngày 18/12/1976 của Hội đồng Bộ trưởng; còn lại 5 thôn là thôn Thượng, thôn Hiên, thôn Nghĩa, thôn Trung Đồng đổi thành thôn Trung Tiến và thôn Lương Phú ổn định đến ngày nay. Về vị trí địa lý, đất đai, dân số: Xã Tây Lương ở phía Tây Bắc huyện Tiền Hải. Phía bắc giáp sông Trà Lý, có con cầu sang huyện Thái Thụy, tuyến đi dài 1000 mét từ cống Đại Hoàng (gốc Ruối) đến cống Lương phú đường 39B; phía Nam giáp xã Tây An, Thị Trấn, kéo dài đến sông Hàng huyện; phía Đông giáp xã Đông Quý và xã Tây Ninh; phía Tây giáp sông Hàng huyện, bên kia là xã Vũ Lăng. Tây Lương có tổng diện tích đất tự nhiên là 634,54 ha, trong đó: diện tích đất canh tác có 365,684 ha (chủ yếu là đất hai lúa, còn đất mầu chiếm 6,916 ha)(1). Dân số hiện có 7.015 người, gồm 1.780 hộ, trong đã 6.732 khẩu nông nghiệp. Chạy dọc theo hướng Bắc - Nam của xã (từ cầu Trà Lý đến xã Tây Sơn) là đường 39B dài 4 km. Ngoài ra xã còn có ba Trục đường chính: - Một đường từ thôn Thượng qua thôn Hiên kéo dài đến sông Hàng huyện. - Một đường từ thôn Nghĩa (đường 39) với đường dọc thôn đi Trung Tiến. - Trục đường thứ ba từ đường 39B chạy dọc Lương Phú đến cống Đại Hoàng (gốc Ruối). Bên cạnh các Trục đường chính, trong các thôn, xóm còn có hệ thống đường xương cá, tạo thuận lợi cho việc giao thông đi lại của nhân dân trong xã.

2- Mảnh đất và con người Do quá trình biển lùi, lại được phù sa của các dòng sông Lân và sông Trà Lý bồi đắp, đất đai của Tiền Hải nói chung và Tây Lương nói riêng ngày càng thêm mở mang. Nhân dân ở các nơi về đây kiến cơ lập nghiệp ngày thêm đông đúc. Trong mấy thập kỷ dưới thời hậu Lê, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước rối ren, khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tiếp nhưng đều không thắng lợi. Đất nước càng trở nên tiêu điều, dân càng lâm vào tình cảnh đói khổ, điêu đứng, họ phải lang thang phiêu bạt đi khắp nơi tìm vùng đất mới để kiếm sống. Trong bối cảnh ấy, các đấng tổ tiên chúng ta đã từ Trấn Sơn Nam về đây lập nghiệp. Đất Tây Lương ngày nay vào buổi ấy cũng là vùng bãi mới được bồi tô, lau lác mọc đầy, đất đai chua mặn, việc trồng cấy gặp rất nhiều khó khăn. Những cư dân đầu tiên đến đây lập thành những ấp, trại lẻ và sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước (riêng thôn Nghĩa có nghề bắt tôm, cá thủ công - nội đồng). Thiên nhiên ưu đãi và ban tặng cho con người nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt, lại thêm bọn cướp biển ngày đêm cướp phá quấy nhiễu. Nhân dân ta đã gắn bó với nhau, cùng nhau chống chọi với nhiên nhiên: quai đê, đào sông lấy nước thau chua, rửa mặn, cải tạo đất đai, đánh trả bọn cướp biển, chung lưng đấu cật, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống và trong lao động sản xuất. Những năm ở thế kỷ XVI làng đại hoàng được thành lập. - Đại Hoàng: là tên của làng cũ, ở Trấn Sơn Nam(2). - Lương Phú: trước gọi là ấp Phú Lương . Thế kỷ XVII thời Lê Trịnh có cô tổ họ Vũ, tên là Vũ Đức Nhuận (hiệu là Lương Trực) quê ở cửa Càn (Nghệ An) chuyên làm nghề đánh bắt tôm cá biển. Cũng vì mưu sinh cuộc sống, khi ra thăm cửa biển Trà Lý thấy cồn cát đẹp, lại có nhiều tôm cá, quanh vùng có dân cư làng xóm, thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán. Trở về rủ thêm anh em và những người cùng quê, cùng nghề nghiệp như các cô thuộc họ Ngô, họ Bùi, họ Tạ, họ Nguyễn... dựng nhà, quây quần sống trên dải cồn cát mép nước làm nghề đánh bắt tôm, cá biển. Do tài nguyên phong phú của biển đem lại, khiến đời sống của ngư dân thay đổi nhanh chóng. Về sau có thêm nhiều người, nhiều dòng họ khác ở các nơi đến không chỉ làm nghề đánh bắt tôm cá biển mà cũng có nghề làm muối, nghề thợ xây, thợ mộc... do đó dân số tăng nhanh. Việc tổ chức thành một làng là việc cần phải bàn bạc hanh thông nên mọi người trong vùng đã nhất tâm lấy chữ Lương là chữ đầu hiệu của cô ghép với chữ Phú là chữ đầu của ấp là Lương Phú. Nguyên xưa kia sông Lân là dòng chảy chính của sông Hồng nên sách có ghi “Đại hải lân môn, Tiểu giang Ba Lạt”. Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thời Chiêu Thống (1787) do ảnh hưởng của cuộc vận động kiến tạo, Ba Lạt tiểu giang thành Ba Lạt phá hội. Cùng chung dòng chảy nên nguồn phù sa nhanh chúng bồi đắp khiến cửa Lân hẹp lại và biển cũng lùi dần lộ ra những cồn cát mênh mông, cửa sông Trà Lý cũng lùi nhanh đến Hải nhuận khiến người dân Lương Phú sống chính bằng nghề biển. Là ngư dân thì phải bám biển nên những gia đình có từ hai con trai thì người con trai thứ hai của gia đình phải tiến theo biển để hành nghề sinh sống. Những người ở lại cùng gia đình chủ yếu là đàn bà, trẻ em và những người lớn tuổi phát triển nghề làm muối (cánh đồng muối ngày ấy nay là doanh trại quân đội nhân dân). Nghề mộc, nghề xây cũng được phát triển nhanh chãng, đến nay những nghề này đã trở thanh nghề truyền thống nổi tiếng nhất trong huyện. Trong các gia đình, hầu như nhà nào cũng có người làm thợ, có nhà ba bốn người làm thợ giỏi, nổi tiếng(1). - Làng Tam Đồng: từ thời xa xưa các đấng tổ tiên của các làng Văn Lang, Phú Mỹ, Quảng Lăng, Lê Lợi, Thịnh Quang (thuộc phủ Kiến Xương) đã góp công sức khẩn hoang vùng đất bãi cửa Trà. Khi đã có đồng đất rồi, cư dân các dòng họ Phạm, Đặng, Lê, Nguyễn, Trần ở làng Quảng Lăng ra (Vũ Lăng ngày nay); họ Phan, Đoàn ở Lê Lợi (Kiến Xương) xuống và họ Đoàn khác ở Trà Lũ (Nam Định) đến lập nghiệp sinh sống.. Dân số tuy không đông, đất đai không nhiều lắm nhưng được phép thành lập làng. Tên của làng do Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đặt cho. Để nhớ ơn nhà Doanh điền sứ, nhân dân trong làng đã xây đình thờ cô(1). Từ khi thành lập làng, các mối giao lưu, quan hệ về kinh tế, văn hóa và mọi mặt của đời sống xã hội trong cộng đồng cư dân thêm gắn bó. Những lễ nghi, tập tục “lệ làng, phép nước” được đặt ra, ai nấy đều phải tuân thủ, song đều được mọi người coi trọng nhất là tôn ty dòng họ. Những quan hệ có tính chất tộc họ, cùng một quê hương đến đây thường họp lại thành một giáp. Giáp có vai trò quan trọng trong mọi sinh hoạt của cộng đồng cư dân; do cùng cảnh ngộ họ phải riê xứ sở của mình đến vùng đất mới lập làng; hơn nữa họ phải bó bện cùng nhau chống chọi với thiên nhiên; giặc dã nên các tộc họ ở đây không hoàn toàn chi phối mọi hoạt động của cộng đồng, giữa các dòng họ có mối quan hệ bình đẳng trong tinh thần tương thân, tương ái. Mỗi làng đều có bộ máy hành chính cai quản, đứng đầu là một viên lý trưởng, thông qua việc bầu bán, tranh cử của Hội đồng Kì mục. Nhiều làng họp lại thành một tổng, đứng đầu tổng là viên chánh tổng cai quản mọi việc. Tổng Đại Hoàng xưa kia thuộc huyện Chân Định, trấn Sơn Nam. Đến năm Mậu Tý (1828 - Minh Mệnh năm thứ 9), với kết qủa khẩn hoang bãi biển Tiền Châu do Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ chủ xướng, huyện Tiền Hải được thành lập. Từ đó tổng Đại Hoàng thuộc huyện Tiền Hải, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam (đến năm 1831 - 1832 Minh Mệnh đổi thành tỉnh Nam Định).

II- TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC, TINH THẦN THƯỢNG VÕ VÀ TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG 1- Truyền thống hiếu học và tinh thần thượng võ Quá trình chinh phục thiên nhiên xây dựng quê hương mới được hoà trộn với những truyền thống, kinh nghiệm của nhiều miền quê cũ khác nhau từ sớm đã là yếu tố quan trọng hun đúc lên những đức tính và những truyền thống tốt đẹp của người Tây Lương. Tuy là vùng đất mới, cư dân hầu hết là những người nghèo, nhưng cha ông chúng ta có truyền thống hiếu học, nhiều người đỗ đạt cao, nhiều tài năng võ nghệ lừng danh nổi tiếng, trong đã có cô Hoàng Vinh. Cô Hoàng Vinh sinh năm 1614, cha mẹ mất sớm được bà nuôi dưỡng, ăn học, vốn rất ham học và thông minh nên sớm thành đạt. Năm 1640 - thời vua Lê Thần Tông, Niên hiệu Vĩnh Tộ (1610 – 1662) - triều đình mở 3 khoa thi: thi Hương, thi Hội, thi Đình, cô đỗ cả 3 khoa – Tam giáp đồng Tiến sỹ, cũng là người đầu tiên trong vùng đỗ Đại khoa được triều đình bổ nhiệm vào Viện Hàn lâm Học sỹ, chức Tả thị lang Bộ hình, giáo thô trấn Sơn Nam kiêm chức Huấn đạo Chân Định. Cô được phong sắc Đại lý tự khanh quế hải tử. Khi chí sỹ nghỉ hưu, cô về sống ở quê ngoại (nay là xã Thái Thịnh, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình). Cô tạ thế năm 1700 ở quê ngoại, nhà thờ cô ở thôn Thượng còn gọi là nhà thờ quan nghố (nhà thờ quan lớn). Các bút tích: “Tứ Canh Thìn đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ, xuất thân Hoàng Tướng công Tiên sinh”, “ Lê triều Tam giáp khai khoa tổ đại địa thiên thiên thu hưởng tích thần” hiện vẫn còn được lưu giữ tại đây Điều kiện tự nhiên nơi đầm lầy ven biển thời hồng hoang đã tạo cho người dân Tây Lương luôn phải đoàn kết kiên trì, anh dũng sáng tạo trong đấu tranh chinh phục, cải tạo thiên nhiên, dựng xây cuộc sống. Đây là một trong những yếu tố cơ bản để người dân Tây Lương gắn bó sâu sắc với quê hương đất nước. Mặt khác, đây cũng là nguyên nhân quan trọng thúc đẩy người dân Tây Lương sớm hun đúc truyền thống yêu nước, dũng cảm, kiên cường trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm và chống áp bức bóc lột. Truyền thống đã đã được thể hiện trong suốt bề dày lịch sử với nhiều đặc điểm: vừa hình thành sớm, vừa Liên tục, mạnh mẽ và để lại nhiều dấu ấn sâu sắc. Tiêu biểu cho tinh thần ngoan cường, dũng cảm ấy là cô Tô Tú Hịch. Cô Tô Tú Hịch sinh năm 1836, sau khi đỗ Tú tài trở về làng, Thời ấy, bọn cướp biển người Tàu, nhân dân thường gọi là giặc săng cá, đứng đầu là tên Khách Lục, chúng thường xuyên quấy phá cư dân quanh vùng, khiến nhiều gia đình phải sống cảnh “sớm khứ mộ hồi” (sớm tản cư đi tối mới trở về). Chứng kiến những tai hoạ đau thương của dân chúng, phẫn nộ trước hành động tàn bạo của bọn cướp biển, cô đã cùng với một số người tìm mưu, lập kế bắt sống được Khách Lục. Để trả thù cho đồng bào của mình, cô cho đánh trống mời dân làng rồi vung đao chém đầu Khách Lục tại nghĩa địa thôn Thượng (cột km 23 đường 39B), sự kiện này diễn ra vào năm Tân Tỵ - 1881. Để phục thự cho chủ, những ngày sau đó, bọn cướp biển đã kéo vào tàn phá, cướp bóc của cải của nhân dân địa phương, trong đã hầu hết là của các gia đình dòng họ Tô. Ba năm sau, năm Quý Mùi(1883) vợ Khách Lục cùng với bọn hải phỉ mới trở lại địa phương xin bốc xương cốt của Khách Lục đem về Tàu “cố quốc”. Từ đấy trở đi bọn cướp biển không dám bén mảng đến quê hương ta nữa, nhân dân được sống yên bình, an cư lạc nghiệp.

2- Tôn giáo, tín ngưỡng Từ khi có đất đai và con người đến định cư, làm ăn sinh sống đến sau này ở Tây Lương chỉ có đạo Phật và đạo Gia Tô, trong đó đạo Phật là chủ yếu. Trong các thôn, thôn nào cũng có nơi tôn nghiêm thờ cúng như đền, chùa, miếu. Trong chùa nhân dân thờ Phật Thích ca; ở đền thờ Mẫu quốc; ở đình thờ Thành Hoàng làng; các miếu thờ thần mang dáng vóc của một làng Việt cổ, có hương ước làng “có cây đa, giếng nước, sân đình”. Mỗi khi có người đau yếu hoặc thiên tại như lúa bị sâu, trựng, chuột bọ phá hoại, khi nắng hạn kéo dài... nhân dân thường lập đàn cúng bái giải hạn, cầu cho mưa thuận, gió hoà. Những ngày rằm, mồng một, các cô già thường lên chùa, vào đền, đến miếu thắp hương cóng bái cầu phúc, lộc, cầu may... Sau cách mạng tháng 8/1945, nhất là từ sau cải cách ruộng đất (1955 - 1956), các đình chùa, miếu mạo cùng với việc cúng lễ giảm đi nhiều. Hàng năm, tại di tích lịch sử văn hóa đền thờ đức thánh mẫu" Đại càn quốc gia nam Hải tứ vị Thánh Nương" vẫn duy trì tổ chức lễ hội vào ngày 1/3 (âm lịch), trong đã phần lễ được diễn ra trang trọng chủ yếu là cầu cho quốc thái, dân an; phần hội coi trọng duy trì và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống (các trò chơi dân gian: chọi gà, tổ tôm Điếm, tế nam quan, nữ quan...)(1). Về đạo Gia Tô: vào năm Canh Thìn (1920) thời Khải Định, ở Tây Lương tôn giáo này cũng khá thịnh hành. Lúc đã có một người là giáo Long đến giảng đạo, ông ta đi khắp các thôn xóm, trại lẻ trong vùng để truyền đạo, ông đi đến đâu thì nhà thờ mọc lên đến đó. Vào thời kì này, Tây Lương có tới 7 nhà thờ.

Trải qua năm, tháng, các nhà thờ không được tu bổ nên đổ nát dần, chỉ còn lại một nhà thờ ở trại Bối Xuyên (trại lẻ) của 4 gia đình với 17 khẩu. Đến tháng 10/1954, tất cả số gia đình này di cư vào Nam. Từ đó đến nay, xã Tây Lương không còn giáo dân nữa.

Những truyền thống tốt đẹp trên đã được sản sinh và mang dấu ấn đậm nét qua nhiều thế hệ xây dựng và đấu tranh hết sức gian khổ nhưng vô cùng tự hào của người Tây Lương. Đã là những yếu tố đã hun đúc và tạo dựng nên sức sống mãnh Liệt, một ý chí phi thường của mảnh đất, con người Tây Lương trước mọi hiểm hoạ và khó khăn thách thức, đã trở thành mảnh đất mầu mỡ để các phong trào đấu tranh yêu nước cách mạng sớm được gieo mầm, bắt rễ phát triển ở Tây Lương vào những thập Niên đầu thế kỷ XX.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Lịch sử xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỰU HỌC SINH K76-79 TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 TÂY TIỀN HẢI, THÁI BÌNH :: Linh Tinh Khác :: Kiến Thức Tổng Hợp-
Chuyển đến